NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG : CÙNG MẸ MARIA BƯỚC ĐI TRONG ĐỨC TIN
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHA PIÔ HẬU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHA PIÔ HẬU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

ĐÃ CÓ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ NHƯ THẾ


Người đàn bà ngót nghét ba mươi, đứng thẳng băng trên bờ ruộng. Hai tay chống nạnh. Cặp mắt đăm chiêu. Miệng thầm thì trao đổi với người chồng.

- Bố mẹ chia cho vợ chồng mình có một sáo ta, ba trăm năm mươi bảy thước vuông. Một năm hai mùa, mỗi mùa chỉ thu hoạch được hơn một trăm cân thóc. Biết lấy gì mà nuôi con. Hay là chúng mình lên Sơn La, phá rừng làm nương, may ra có tương lai…
- Anh chưa biết phải nghĩ thế nào. Ở đây thì ruộng ít, người đông. Nhưng ở trên ấy lại không có nhà thờ.
-Thì dần dần rồi cũng sẽ có nhà thờ. Chỗ nào mà chả có Chúa.

Một tháng sau, hai vợ chồng bồng hai đứa con, cuốn gói ra đi, bỏ lại xóm làng và ngôi nhà thờ thân thương. Bặt vô âm tín. Không thư từ, không tin tức.

Ba mươi năm sau, người đàn bà ấy đã suýt soát sáu mươi. Bà khúm núm đứng trước mặt một linh mục từ phương xa mới tới, tới bất ngờ như người từ trên trời rơi xuống. Bà kể chuyện về đời mình. Đời của bà vừa thăng trầm, vừa ngoằn ngoèo như đường đèo không có điểm dừng và không có điểm tới. Bà kể chuyện bằng cả miệng lẫn mắt. Miệng thì run run, mắt thì đẫm lệ…

Ông linh mục khoanh tay đứng nghe. Vừa nghe, vừa cắn môi để giữ cho dòng lệ khỏi rơi. Ông lặng lẽ nghe. Ông âm thầm nhớ, để có một băng hình ký ức tuyệt vời.

Ông giã từ sông Mã và người đàn bà kỳ lạ. Ông trở về nhà, ngồi một mình trong phòng kín. Ông ôn lại kỷ niệm, ông suy nghĩ và ông thấy có một bàn tay vô hìnhđang nối kết sự kiện, để hoàn thành một tác phẩm kỳ diệu. Băng hình ký ức ấy bắt đầu quay. Hình ảnh bắt đầu xuất hiện. Bàn tay vô hình đang nối kết.

Băng hình một: Một căn chòi nhỏ bé đang cố bám lấy sườn đồi để khỏi rơi xuống vực thẳm. Bên trong có một thằng cu tí đang đưa cho em gái một bắp ngô nướng. Hai anh em vừa gặm ngô vừa cười với nhau, nhe hai hàm răng sún mà không biết hổ thẹn, vì chưa bao giờ thấy hàm răng không sún. Nên ngoài căn chòi cô đơn là một vạt ngô bạt ngàn đang tới mùa thu hoạch. Hai vợ chồng trẻ nhìn nhau, cười phở lở. Hai cặp mắt sáng như sao. Tương lai cũng phải sáng như sao… Mừng quá.

Băng hình hai: Căn chòi cheo leo bên sườn đồi không còn nữa. Bây giờ là một dãy nhà ba gian. Trước nhà là một mảnh sân rộng thênh thang. Sau nhà là một vựa ngô có sức chứa hằng trăm tấn. Hai anh em sún răng đây giờ đã có đứa em trai đang chập chững tập đi.

Người vợ trẻ năm xưa có cặp mắt sáng như sao, đứng bên cạnh anh chồng lực lưỡng, thì bây giờ đã sồn sồn và chỉ đứng một mình. Bà chăm sóc ba đứa con. Trước mặt là bàn thờ có tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bà dạy đứa con hai tuổi khoanh tay tròn vo, ngước mắt nhìn Chúa và cùng anh chị đọc thật to: “Trái tim Chúa Giêsu, xin cho chúng con ước ao những sự trên trời”.

Sáng nào cũng thế. Tối nào cũng vậy. Từ năm này qua năm khác…

Băng hình ba: Người đàn bà sốn sốn bưng mâm cơm ra nhà ngoài cho ba đứa con. Bà dạy các bé làm dấu thánh, đọc Kinh Lạy Cha rồi xới cơm, chan canh và gắp thức ăn cho các bé. Mỗi ngày ba lần. Ngày này qua ngày khác, cho tới khi các bé thành người lớn.

Người đàn bà sốn sốn ấy lại bưng mâm cơm  vào nhà trong cho anh chồng mất trí. Anh chồng vạm vỡ năm nào bây giờ chỉ còn là ông già ngồi lầm lì trong căn buồng, giống như phòng biệt giam. Vợ bảo làm dấu, ông làm dấu. Vự bảo đọc Kinh Lạy Cha, ông nhóp nhép đọc. Vợ bảo há miệng để bà bón cơm, ông há miệng… Mỗi ngày ba lần như thế. Ngày này qua ngày khác. Năm này qua năm khác. Đã ròng rã gần ba mươi năm như thế.

Băng hình bốn: Một người đàn bà xấp xỉ năm mươi, mặc áo dài quý phái như bà mệnh phụ. Bà đi tới đi lui, niềm nở đónkhách. Khi thì bà đứng chụp hình trước cổng hoa có hai chữ “Tân Hôn”. Khi thì bà đứng giơ tay chào trước cổng hoa có hai chữ “Vu Quy”. Trong vòng bốn năm, bà liên tục cưới dâu cho con trai, gả chồng cho con gái. Đám cưới nào cũng đông khách. Đám cưới nào cũng hoành tráng. Đám cưới nào bà cũng rạng rỡ như hoàng hậu. Nhưng sau mỗi đám cưới, bà lại rầu rầu, y như có điều gì bất hạnh mới xảy ra trong nội bộ gia đình… Chẳng ai hiểu được tâm sự ấy của bà.

Băng hình năm: Người đàn bà tuổi 54, quỳ gối trước bàn thờ Thánh Tâm, miệng lâm râm cầu nguyện.

Bà cầu nguyện cho một người chồng không còn trí khôn. Ông ngồi một mình trong buồng như trong phòng biệt giam. Bà hầu hạ chồng như một cô giáo chăm sóc bé mầm non. Bà không ngại vất vả, mà chỉ buồn vì ông chồng quên xưng tội rước lễ từ hơn ba mươi năm rồi.

Bà mừng cho ba đứa con đều có sự nghiệp. Đứa nào cũng có gia thất. Đứa nào cũng có cơm ngon áo đẹp. Nhưng chẳng đứa nào được đi lễ, chẳng đứa nào được chịu các bí tích. Phần xác thì béo tốt, mà phần hồn thì nheo nhóc.

Bà thầm xin Chúa cho một nhà thờ, một họ đạo và một ông cha xứ để sớm hôm có Thánh lễ và kinh kệ.

Băng hình sáu: Một phụ nữ tuổi đã ngoài 50, nhưng nhìn như mới tứ tuần. Bà nói chuyện với một linh mục già. Nói một cách dạn dĩ. Lúc thì dang tay thẳng băng. Lúc thì giơ tay chỉ chỏ. Y như một MC có tài đang dẫn chương trình của một buổi đại lễ.

Bà chỉ ngôi nhà khang trang do chính mồ hôi nước mắt của bà làm nên, bên cạnh một ông chồng mất trí và ba đứa con nheo nhóc.

Bà chỉ một sườn đồi bát ngát do chính tay bà khai phá. Mỗi năm sườn đồi ấy triều cống cho bà không dưới nửa tỉ đồng.

Bà chỉ một cái nhà kho cũ kỹ rộng hơn một trăm mét vuông do chính con trai của bà tự tay xây lấy. Vợ làm phu hồ, chồng làm thợ xây, mẹ làm đốc công.

Bà cứ kể chuyện, bà cứ chỉ chỏ. Ông linh mục già cứ le lưỡi tỏ vẻ thán phục. Bà kể mãi mà không thấy mệt. Ông linh mục nghe mãi thì lại thấy mệt. Ông cắt ngang câu chuyện của bà già để chuyển đề. Ông bát đầu phỏng vấn:

-Ở đây có bao nhiêu giáo dân?
-Kể cả lớn bé, già trẻ thì được phỏng chừng ba trăm.
-Có giáo dân người dân tộc Thái không?
-Có nhưng mà… ít lắm cha à.
- Nếu tôi muốn dâng một Thánh lễ thì dâng ở đâu?
- Mình tạm lấy nhà kho của con. Sơn phết lại một tí là khang trang ngay cha ạ.
-Mình phải tính về lâu về dài. Phải có đất làm nhà thờ. Vậy mua đất ở đau? Và lấy tiền ở đâu?
-Miếng đất làm nhà kho đứng tên chồng con, nhưng chồng con không còn trí khôn thì con có quyền. Để con gọi con cái về hết. Con hỏi ý kiến chúng nó.

Ba cú điện thoại và 12 phút chờ đợi.

Con rể, con gái, con trai, con dâu và các cháu đứng lố nhố. Nói chuyện chí chóe, y như ngày giỗ tổ. Bà già lên tiếng, dõng dạc như nữ tướng:

-Tao dâng đất này cho cha để làm nhà thờ. Cái nhà kho này là của thằng Cả. Tao đề nghị mày dâng cho cha luôn, để tạm làm nhà thờ. Chúng mày nghĩ thế nào?
- Hoan hô mẹ. Chúng con đồng ý trăm phần trăm.
- Giáo họ Sông Mã ra đời như thế đó.

Linh mục già lên xe ra về. Ngồi trên xe,ông cứ cười tủm tỉm một mình. Mừng quá, mừng hơn là trúng số độc đắc. Ông không ngờ có một bàn tay vô hình dìu dắt một người đàn bà. Suốt ba mươi năm trường có lẻ, để làm nên một tương lai sáng lạn như thế. Ông dang tay, ngước mắt nhìn về dãy núi trập trùng, bất giác thốt lên: “Ôi đàn bà! Ôi sao sa!”.
ĐÃ CÓ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ NHƯ THẾ-  LM Piô Ngô Phúc Hậu- Trích BGCN TGPSG 12/2012

MỘT HỌC TRÒ CÓ NHIỀU THẦY CÔ


1/ THẦY SẦU RIÊNG
Mình đi dạo lang thang trong vườn Đan viện Xitô. Vườn mà mênh mông như rừng. Bỗng xuất hiện một hàng sầu riêng. Mình đếm một, hai, ba, bốn…. đếm mãi mới hết. Lá sầu riêng lưa thưa không che được cái lõa lồ của trái. Kẽ nách này một chùm. Kẽ nách kia một quả. Không muốn giấu giếm, không thèm che đậy. Mình cười thầm trong bụng: “Khoe của”.

Mình thì thầm đếm. Mình im lặng ngắm. Trên màn ký ức xuất hiện biết bao kỷ niệm vui buồn về trái sầu riêng. Bất giác mình thốt lên: ”Chào thầy”.

Mình vẫn coi trái sầu riêng là bậc thầy dạy mình rất nhiều về nhân tình thế thái. Trên thế giới hiện nay có bảy tỷ người, thì có lẽ 95% chẳng biết trái sầu riêng là gì. Còn lại 5% thì chia làm hai phe. Phe này ca tụng sầu riêng là: “ngon tuyệt vời”. Phe kia thì chửi sầu riêng là: “thối như xác chết”. Phe ca tụng thì lầm lầm lì lì cứ ngồi ăn hì hục. Vừa liếm láp vừa mút mát. Liếm mút đến trơ trụi cái hột, đến nhẵn nhụi mười đầu ngón tay. Ăn rồi vẫn tiếc hùi hụi…

Phe chửi thì ấm ĩ, mạt sát không tiếc lời. Lại còn ví von để bêu diếu: “Vàng vàng như…, nhão nhão như…, thum thủm như….”

Mình đứng ở giữa không theo bên nào nhưng vẫn tự hỏi: “Ai đúng ai sai”. Ai cũng bảo mình là đúng và họ nói với tất cả tấm lòng thành của mình. Cuối cùng mình phải hỏi trái sầu riêng: “Sầu riêng ơi, mày thơm hay mày thối?”. Có tiếng trả lời: “Tương đối thôi”. Thì ra khả năng con người chỉ có thế. Đành phải chấp nhận nhau, tìm hiểu nhau và thông cảm với nhau thôi.

Thầy sầu riêng ơi, em cám ơn thầy.

2/ CÔ MAI
Ông nhà vườn đang chuẩn bị hốt bạc. Ông trồng 1.000 cây mai. Ông chăm bẵm như cô bảo mẫu chăm sóc bé thơ. Ông bón phân. Ông tưới nước. Ông đo nhiệt độ ban ngày và ban đêm. Ông đo chiều cao của thân cây và chiều dài của cành xòe. Ông đi tới đi lui. Ông dừng chân và nhìn ngắm. Ông đặt tay lên trán và suy nghĩ… Người ta bảo ông nhà vườn phải lòng vườn mai.

Rồi bỗng dưng ông quên vườn mai. Không bón phân. Không tưới nước… Người ta tưởng ông ngã bệnh nặng… Không phải. Ông mê cờ tướng, ngồi đánh cờ suốt ngày. Người ta xì xào: “Bán đồ phi phế”; “Đánh trống bỏ dùi”; “Mê bồ nhí thí phu nhân”. Nói mãi chán mồm, không ai thèm nhắc đến ông nhà vườn và 1.000 cây mai nữa.

Bỗng ông nhà vườn lại xuất hiện nhưng không tưới bón mà lại phá phách. Ông ngắt hết lá của 1.000 cây mai, biến rừng xanh thành vườn chết cháy. Một ngàn cây mai giống như một ngàn thằng chết đói, Giơ tay khẳng khiu van xin cháo thị… Người xấu mồm bảo: “Thằng khùng giẫy chết”; “Con điên xé váy”. Ông nhà vườn nghe biết, nhưng không thèm chấp nhất.

Thời gian trôi nhanh. Ngày đầu xuân xầm xập đi tới. Rừng mai chết biến thành rừng hoa mai vàng bạt ngàn. Trập trùng. Rực rỡ. Xe cộ từ thành phố đổ về nườm nượp. Con buôn xỉa tiền nhanh như máy. Ông nhà vườn hốt tiền nhanh hơn nhân viên môi trường hốt rác. Láng giềng xấu mồm bây giờ há hốc miệng. Chết điếng!

Từ ngày ấy, hễ cứ thấy cây mai thì mình lại ngắm nghía và suy nghĩ, rồi buột miệng: “Cháo cô”.Cây mai là hình ảnh tuyệt vời để mình suy niệm Mầu nhiệm Cứu Độ: “Từ thụ nạn đến Phục Sinh”, “Từ khổ giá đến vinh quang”.

Cây mai cũng phải trải qua lịch sử: “Từ khổ gốc đến vinh quang”. Giáo dục trẻ em cũng phải theo gương cây mai. Mọi người muốn làm nên sự nghiệp cũng phải theo gương cây mai. Linh mục, tu sĩ muốn đạt được hào quang của bậc tu trì thì cũng phải nhận cây mai là cô giáo của mình.

Chào Cô Mai.

3/ THẦY “SANH-SI-SỌP-GỪA”

Mình đi lượm rác chung quanh nhà thờ, nhác thấy một cây gừa thò đầu ra từ trong kẽ tường. Tức quá, mình túm lấy ngọn nó, kéo thật mạnh. Đứt ngọn. Mình lảo đảo muốn té... Mà gốc và rễ vẫn nằm gọn trong kẽ tường. Thế là nó thắng, mình thua. Mình đứng lặng suy nghĩ...
Sanh-Si-Sọp-Gừa giống như bốn thằng đàn ông có bà con với nhau. Lập trường của chúng nó là sống khỏe hơn sống đẹp. Rễ của chúng nó bủa ra chung quanh gốc cây để lấy muối khoáng y như các loại cây khác Chúng còn cho rễ bung ra khắp mọi cành, mọi nhánh. Rễ thả xuống tua tủa như tóc tiên. Rễ còn ôm chặt lấy thân cây như cánh tay vạm vỡ của thằng khổng lồ. Dùng rễ để tồn tại và tồn tại oai hùng. Nhưng để phát triển thì sao? Kế hoạch của chúng nó là không ồn ào như rễ. Chúng nó rất âm thầm và khiêm tốn.
Trái của chúng nó nhỏ xíu chẳng ai để ý. Chỉ loài chim mới thấy. Chim ăn rồi ỉa. Chim ỉa trên nóc nhà, trên đỉnh ngọn tháp. Trong cứt chim có hạt của chúng nó, hạt đó không bị hủy hoại. Nó âm thầm mọc lên. Mọc trên tháp, mọc trên ống máng, mọc trong kẽ tường. Bất khuất. Người ta tức mà chẳng làm gì được nó.
Bốn anh em nhà Sanh-Si-Sọp-Gừa vừa dạy mình một bài học về truyền giáo. Bài học ấy là:
-  Hiến thân mình làm thực phẩm nuôi chim.
- Khiêm tốn biến thành cứt chim để được chim gieo giống hộ trên cao.
- Sống cho trọn vẹn để hỗ trợ bất cứ tổ chức nào, bất cứ tôn giáo nào, miễn là tổ chức ấy có ý tốt. Khiêm tốn đến tận cùng, đến độ không ai biết đến, miễn là Đức Giê-su được rao giảng. Cứ thế Tin Mừng sẽ lớn lên, tồn tại, phát triển và bất khuất.
Cám ơn thầy Sanh-Si-Sọp-Gừa.
4/ CÔ ACB
Mình gặp một vị chủ chăn cao cấp, ngài vừa cười vừa kể chuyện :
Có một cô làm việc trong ngân hàng ACB. Cô mới xin học đạo và theo đạo. Đạo mới mà hơn đạo cũ: sốt sắng lắm! Nghe người ta khen mà tôi chưa gặp mặt cô lần nào. Bỗng hôm ấy, trong một dịp đại hội, có một người dẫn cô ấy đến giới thiệu với tôi.

Đã biết chuyện và sẵn có thiên cảm với cô, tôi nói chuyện vui vẻ và cởi mở ngay.
- Chị trở lại đạo hồi nào?
-Thưa (ngập ngừng), con ‘đi tới’ chứ con không ‘trở lại’... Con theo đạo Phật. Đạo Phật quá hay. Bây giờ con khám phá ra là đạo Chúa hay hơn. Thế là con đi tới luôn. Con không ;trở lại’ đạo, vì con có đi sai đi lạc đâu mà ‘trở lại’...

Kể xong chuyện, ngài nhắc nhở mình : « Coi chừng đấy nhá. Chúng ta có thói quen nói là người ngoại trở lại đạo. Nói vậy thì vừa sai vừa xúc phạm đấy... »

Nghe chuyện « cô ACB trở lại đạo » mình hồi tưởng câu chuyện của nhà thơ Charles Péguy.

Năm 39 tuổi Charles Péguy xin học đạo. Khi học giáo lý, anh được người giáo lý viên trình bày về Hỏa Ngục. Người ta thích nói về sự khủng khiếp của Hỏa Ngục, để người nghe vì sợ  Hỏa Ngục mà không dám phạm tội. Rõ thật là hay mà không hay.

Sau khi kết thúc bài giáo lý về Hỏa Ngục, giáo lý viên phỏng vấn Charles Péguy.
-  Anh có sợ Hỏa Ngục không?
-  Không!
-  Ơ hay. Tại sao anh không sợ Hỏa Ngục?
-  Tôi có xuống đó đâu mà phải sợ nó.
- Anh này buồn cười nhỉ. Tại sao anh biết là anh không xuống Hỏa Ngục?
- Tôi biết chứ, vì Chúa không muốn cho tôi xuống Hỏa Ngục. Tôi cũng không muốn luôn.
???!!!
 Vô tình Charles Péguy trở thành thầy của giáo lý viên.
Vô tình cô ACB trở thành cô giáo của mình.
Cám ơn Thầy Charles Péguy. Cám ơn Cô ACB.
Lm Piô Ngô Phúc Hậu - Trích từ BGCN TGP/SG tháng 6.2012

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

ĐÁM CƯỚI NHÀ QUÊ


.....2 giờ sáng
Đàn ông và chuồng lợn, bắt lợn, trói lợn và khiêng lợn ra cầu ao. Lợn kêu eng éc một cách tuyệt vọng. Sau đó là cắt tiết lợn, cạo lông lợn và mổ lợn. Lợn chỉ kêu được một tiếng oọc, rồi nhắm mắt lìa đời.

4 giờ sáng
Một nong thịt lợn nằm phơi trên sân: thủ lợn, đùi lợn, mỡ lợn, sườn lợn và lòng lợn. Đàn ông rủ nhau đi tắm. Đàn bà từ trong nhà kéo nhau ra: dao và thớt; chặt và chém; nấu và nướng. Khói bay mù mịt, vương theo mùi mỡ thơm phưng phức.

10 giờ trưa
Mâm cao cỗ đầy tràn ngập từ trong nhà ra tới ngoài sân. Một trăm bàn. Sáu trăm khách. Đông vui hơn hội chợ. Cô dâu chú rể lướt thướt đi chào khách. Cúi đầu chào. Đưa hai tay nhận phong bì. Môi tủm tỉm. Mắt chớp chớp…

Bỗng dưng cô dâu hét lên một tiếng rồi gục đầu vào vai chú rể. Mọi người im phăng phắc, ngơ ngác. Thì ra… có tiếng thầm thì ở dưới gầm bàn.

1/ Chân phải nói chuyện với chân trái
- Chân trái ơi! Sáng hôm nay khi gà chưa gáy, tao với mày đã phải chui vào chuồng heo để bắt lợn. Tao đạp phải cứt lợn, nhoe nhoét ra, bẩn ơi là bẩn!
- Còn tao thì đạp phải nước đái lợn, trượt một cái, tưởng là gãy ống chân. Hú hồn!
- Thế mà bây giờ tao với mày phải nằm bẹp dưới gầm bàn. Còn trên kia thì toàn là cao lương mỹ vị. Tao với mày chắng được ăn miếng nào.
- Không những không được ăn, mà ngay cái mùi thơm của thịt cũng không được ngửi. Mùi thơm thì bay lên. Còn “mùi ấy” thì chìm xuống. Tao với mày phải lãnh đủ.
- Nhịn ăn, nhịn ngửi thì tao chịu được. Điều mà tao tức đến chết được, ấy là hai thằng tay nó hưởng hết công khó của mình. Mày thấy không: tay trái thì bưng bát; tay phải thì gắp, gắp rồi thì và. Gắp-và lia lịa. Bất công vô cùng! Tao đề nghị với mày là hai đứa mình đình công, không nhấc chân, không đi đâu hết. Đồng ý không?
- Đồng ý.

2/ Tay nói chuyện với chân
Hai bàn tay thấy hai bàn chân nói xấu mình thì tức lắm, bèn lần mò từ đầu gối xuống cổ chân, rồi cào cào lên hai bàn chân mà mắng
-Sáng nay chúng mày lội vào chuồng heo để bắt lợn, thì chúng tao thấy. Chúng mày đạp phải cứt lợn thì chúng tao cũng thấy. Nhưng chúng mày mù không thấy chúng tao cực khổ: cắt tiết lợn, cạo lông lợn, mổ lợn và rửa lòng lợn. Thổi ơi là thối! Bây giờ chúng mày lại hiểu lầm là chúng tao ngồi chơi xơi nước, hưởng hết công khó của chúng mày. Oan khiên vô cùng! Chúng tao có bưng, có gắp, có và thật, nhưng… chẳng qua cũng chỉ làm đầy tớ cho cái miệng mà thôi. Bưng mỏi tay, gắp mỏi tay mà có được hưởng gì đâu. Công cốc! Để nói lên nỗi oan khiên của chúng tao, chúng tao cũng đình công: thôi bưng, thôi gắp, thôi và, buông thõng hai tay. Sướng!

3/ Miệng nói chuyện với tay
Nghe tay nói xấu mình. Miệng ngoác ra. Răng nhe ra. Lưỡi thè ra đỏ lòm. Cả ba đứa cùng la lên.
- Tay và Chân, chúng mày đều ngu như trâu. Đầu chúng mày không có não mà chỉ có đậu phụ. Chúng mày chỉ nhìn gần mà không thấy xa. Chúng mày cực khổ thì chúng tao biết. Còn chúng tao cực khổ thì chúng mày đui mù không thấy. Này nhá, vểnh tai lên mà nghe. Chân phải đạp cứt lợn thì ra cầu mà rửa. Tay gắp mỏi thì buông đũa mà nghỉ. Hà cớ gì mà than thân trách phận.
- Tao là Răng đây. Nhai thịt nạc, thì không nói làm chi. Có khi chúng mày gắp cục xương to tổ bố nhét vào miệng, bắt tao phải gặm, bắt tao phải nhai. Nhai không được thì phải nhả ra. Xương thì rơi ra, gân thì mắc kẹt vào kẽ răng. Chúng mày có biết giắt răng thì khổ như thế nào không? Ông cha chúng ta, với kinh nghiệm “cổ lai hy” đã tuyên bố rằng: “thứ nhất đau mắt, thứ nhì giắt răng”. Đấy, chúng mày thấy tao khổ chưa?
-Tao là Lưỡi đây. Tao phải khổ trăm chiều. Khổ vì phải thè ra thật dài để đưa vào miệng một nùi rau muống luộc chưa chín. Còn phải thè ra dài hơn nữa để táp một nùi bún dài lòng thòng mãi không chịu tuồn vào. Xấu hổ vô cùng! Ấy là chưa kể đến tai nạn giao thông thường xảy ra: đó là tao chưa kịp sang số để thụt vào, thì thằng Răng đã sang số để bập xuống. Đau ê ẩm! Cuối cùng thì bao nhiêu cao lương mỹ vị tao phải gói ghém để gửi xuống tặng ông Dạ Dày. Công cốc!
- Nếu chúng mày, tức là Thằng Tay và thằng Chân hiểu lầm tao, thì tao tuyên bố “đình công” ngay từ giờ phút này. Tao, thằng Răng, thằng Môi và thằng Lưỡi.

Cú điện thoại dài ba mươi phút của ông Dạ Dày
-  Allô! Tay, Chân, Miệng, chúng mày nghe tao nói đây!
-  Dạ, chúng tôi nghe.
-  Tao ở xa. Nhưng tao hiểu hết cuộc đời của chúng mày.

+ Thằng Chân là khổ nhất: Khổ vì chuồng lợn vùng nông thôn hẻo lánh thì chỉ có bùn và phân; khổ vì chẳng được thấy sự cao sang ở trên bàn. Dưới gầm bàn chỉ có muỗi và muỗi. Ngứa muốn chết. Đúng!

+ Thằng Tay thì may mắn hơn: thấy miếng ngon thì gắp; gắp xong thì và; gắp-và mà mệt thì buông đũa bát xuống để nghỉ. Khổ, nhưng chỉ khổ một tí thôi. Đâu đến nỗi gì mà phải kêu ca, phải rên la, y như là tận cùng bằng số.

+ Thằng Răng khi phải gặm xương thì có nguy hiểm thật. Nhưng chỉ là chuyện ngàn năm một thuở. Còn chuyện giắt răng chẳng qua chỉ là để dành của thơm, lâu lâu chép miệng một cái để nhớ để thương. Nếu bực bội và khó chịu, thì đã có bàn chải Colgate. P/S… Vô số, vô số.

+Thằng Miệng và thằng Lưỡi thì chẳng bao giờ được tự do hoạt động: miệng mở to hay nhỏ, lưỡi thè gần hay xa, tất cả đều do thằng Tay quyết định. Nó thuồn vào một nùi rau muống, thì phải mở miệng toác hoác, thè lưỡi dài thoòng mà táp, mà ngốn. Xấu hổ thì ráng mà chịu. Thức ăn đầy miệng rồi, thằng Lưỡi ra công mà trộn. Trộn rồi lại chuyển qua cho thằng Răng. Thằng Răng mà chơi đểu, thì lưỡi phải tứa máu. Nhưng âu cũng là số kiếp: “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Mày lắt léo thì mày phải đền tội.

+ Bây giờ đến số phận của tao, chúng mày vểnh tai mà nghe. Chúng mày khổ một thì tao khổ mười. Chúng mày khổ mười thì tao khổ gấp trăm. Bao nhiêu món cao lương mỹ vị đều tập trung vào tao thật. N hưng tao có được hưởng gì đâu. Khổ ơi là khổ!

Khổ một: Chúng mày làm một thì nghỉ. Còn tao thì phải lao động 24 trên 24. Hì hục, hì hục.

Khổ hai: Chúng mày ở ngoài ấy ban ngày thì có ánh sáng mặt trời, ban đêm thì có đèn điện. Còn tao ở đây thì tối mù mù. Trăng tròn hay trăng khuyết, tao không biết. Đèn sáng rực hay tối mờ như đom đóm đực, tao bất lực. Đành cắn răng chịu thua.

Khổ ba: Ở ngoài ấy có nước sạch, có xà bông, xà bông giặt, xà bông tắm. Chân đạp phải cứt lợn thì đi rửa. Rửa xong thì sạch boong. Xịt thêm một tí dầu thơm, thì… xướng ơi là xướng! Còn toàn thân tao thì chỉ là một cái hầm cầu: đen đúa, nhầy nhụa. Nhục ơi là nhục!
Khổ bốn: Ở ngoài ấy có gió mát. Không có gió thì có quạt: quạt giấy, quạt mo, quạt điện. Thậm chí còn có máy điều hòa, mát rười rượi. Còn tao ở đây thì nóng 37o C. Nóng triền miên. Không thể quạt. Không thể gắn mày điều hòa. Còn hơn hỏa ngục!
 Tao khổ như thế đấy. Vậy mà chúng mày không thương lại còn gièm pha. Lại còn ghen tuông. Để chúng mày cảm thông với tao, tao cũng đình công. Đình công ngay từ giờ phút này. Vừa không phải khổ, vừa không bị ghét. *     *

Thời gian cứ thế mà trôi qua. Im phăng phắc. Bỗng dưng lại có chuông điện thoại reo.
- Allô! Ông Dạ Dày đây. Cho tôi nói chuyện với thằng Miệng.
- Dạ, em đây.
- Tất cả chúng ta đều đình công, để thông cảm với nhau, để cùng nhau xây tình huynh đệ và để khỏe cái thân. Thế nhưng tao thấy không ổn. Tưởng nghỉ thì khỏe, ai ngờ thấy xót xa từ ruột già đến ruột non. Xót xa quá thể!
- Em cũng thấy vậy. Từ lúc nghỉ nhai, nghỉ nuốt. Sao em thấy buồn ngáp quá. Ngáp hoài không hết.
- Mày hỏi thằng Tay và Chân xem chúng nó thấy thế nào?
-Em hỏi rồi. Cả hai thằng Tay và Chân đều bị run như người mắc bệnh Parkinson. Đứng không nổi, ngồi không yên. Chắc là phải đi bệnh viện xin cấp cứu.
-Như vậy đình công là sai; ganh ghét nhau là sai. Vậy tao yêu cầu: Thằng Chân vào bếp lục lọi xem còn cơm nguội, còn thịt lợn không? Nếu còn thì thằng Tay bưng ra, vừa gắp vừa và cho đầy mồm. Thằng Răng phải nhai cho nhanh, nghiền cho nhuyễn. Thằng Lưỡi phải đẩy xuống ngay cho tao. Còn tao thì sẽ cần cù bóp suốt ngày, bóp trong đêm tối mịt mù, bóp trong phòng nóng 37o C, bóp trong hầm cầu thối như kít.

                                                     *     *

Sau ba tiếng đồng hồ lao động hì hục. Chuông điện thoại lại reo
- Allô! Dạ Dầy đây. Miệng hết ngáp chưa?
- Êm ru bà rù.
- Allô! Thằng Tay hết run chưa?
- Mới cù nách bà xã xong.
- Tại sao cù nách người ta?
- Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.
- Allô! Còn thằng Chân. Mày hết run chưa?
- Mới đá chết con heo.
- Tại sao đá nó?
-  Ngày mai có đám cưới.
- Thế là rõ rồi nhá. Tất cả chúng ta đều là những bộ phận khác nhau của một thân thể. Khác nhau nhưng hỗ trợ nhau và cùng lớn lên trong một thân thể. Đồng ý chưa?
-  Đồng ý!
-  Đả đảo ghen tuông. Đả đảo phân bì.
-  Đoàn kêt muôn năm! Tương trợ muôn năm!


                                                  Lm. PIÔ Ngô Phúc Hậu
BGCN/TGPSG 10.2013

CON TU HÚ

  Trời trong xanh, cao vời vợi. Gió hiu hiu thổi lung linh cành gạo. Một bông gạo rụng xuống. Thằng cu Tí chạy lại nhặt lên, le lưỡi liếm chút mật còn dính ở đài hoa: sung sướng vô cùng !
Trên cây gạo cổ thụ: ngàn hoa đua nở, rực rỡ hơn hừng đông, đẹp xinh hơn tình yêu. Có một cặp vợ chồng Quạ đang âu yếm rỉa lông cho nhau. Hai cái mỏ nhọn vừa xục xạo, vừa rù rì… Bỗng cô vợ nghiêm: hai chân đứng thật thẳng, cặp mắt lim dim, giọng nói nhỏ nhẹ.
-  Anh yêu, em thấy lâm râm đau bụng. Có lẽ sắp tới ngày ấy rồi.
- Anh biết rồi. Em nhìn kìa, cái tổ anh mới làm to bằng cái thúng, chứa được cả chục đứa con, vừa ấm áp, vừa ấm lòng. Em cứ đẻ tối đa nha.
- Chuyện nghiêm chỉnh mà anh cứ đùa cợt, em mắc cỡ quá à… Mà em báo cho anh hay là em sẽ mất sức nhiều lắm đấy.
- Biết rồi. Em cứ đẻ, cứ nằm nghỉ. Một mình anh dư sức nuôi em và hai ba em nữa, ý quên, xin lỗi.
- Đàn ông các anh trăm người như một, ông nào cũng năm thê bảy thiếp
-Chưa biết ai nhăng nhít hơn ai. Khi nào trứng nở thì biết. Chỉ đàn bà mới là mẹ. Còn đàn ông thì không biết mình có phải là bố hay không.
-Xí… chỉ nói bậy nói bạ.
-Quạc… Quạc… Khặc… Khặc…
***
Cách xa tổ quạ hai trăm mét, có một cặp vợ chồng Tu Hú, vừa đánh đu với ngọn tre rung rinh, vừa tâm tình lãng mạn cực kỳ. Tu Hú mái mở banh hai cánh ra, nhìn chồng đắm đuối, rồi lấy mỏ mổ nhẹ vào cái bụng ột ệt và ỏn ẻn gợi ý:
-Anh yêu ơi! Em sắp được nghỉ hộ sản rồi, mà anh vẫn chưa dọn ổ cho em. Cứ đậu trên cành tre ve vãn gió như thế này, thì trứng của em sẽ rơi xuống đất hết.
-Đừng lo, sẽ có ngay. Em sẽ đẻ trong ổ to như cái thúng. Em đẻ một trăm trứng cũng không hết chỗ trọ. Anh chỉ cần hô “có” là có ngay.
- Anh đừng nói phét. Anh phải lo đi tha rác và làm ổ nội trong ngày hôm nay. Ngày mai là trễ rồi đấy. Em thấy đau bụng lắm rồi.
- Nếu em đẻ ngay bây giờ, anh vẫn lo có ổ cho em.
- Anh làm cách nào? Nói ngay đi.
- Anh làm phép lạ.
- Phép lạ là sao?
- Bí mật.
- Bật mí ngay đi thì em mới tin anh được.
- Chuyện bí mật mà nói với em thì lộ hết. Lộ thì chết cả lũ.
- Bảo đảm là em sẽ giữ bí mật tuyệt đối.
- Miệng của em hay bép xép lắm… Em lại gần đây, anh nói nhỏ cho mà nghe. Nói to thì vợ chồng Quạ nó nghe được. Nó mà nghe thì kế hoạch của chúng mình sẽ tan thành mây khói. Trứng của em vừa đẻ ra là nhão nhoét ngay.
 Con Tu Hú vợ sợ quá, nép mình bên cánh của chồng đang xòe rộng ra như hai cánh buồm: ấm áp và bình an… phú thác và tin tưởng tuyệt đối vào người chồng tài hoa.
 Trên cành tre đang đu đưa theo làn gió nhẹ, con Tu Hú chồng kề sát mỏ vào tai vợ, thủ thỉ thù thì. Con Tu Hú vợ kiễng chân lên, ngã người vào sát lồng ngực của chồng, nhắm mắt để tập trung hết khả năng tiếp thu của lỗ tai.
 - Em!... không “dạ” hả? 
Đang tập trung tư tưởng ghê quá ! Ham nghe quá phải không ? Này nha, em thấy cái tổ quạ to đùng kia không? Phòng hộ sản của em đấy.
- ?!? Tu Hú vợ há mỏ, trợn mắt, không nói nên lời.
-  Em yên tâm. Anh chỉ bật mí một tí thôi. Khi nào hoàn thành kế hoạch, anh sẽ phân tích sự cố cho em nghe. Một tí bí mật là thế này: khi vợ chồng Quạ vừa bỏ nhà bay đi, thì em vào ngay ổ của chúng nó. Em hút trứng của chúng nó để lấy sức mà rặn đẻ. Hút xong thì lấy vỏ trứng bỏ ra ngoài, rồi yên tâm đẻ và nghỉ đẻ cho tới khi có lệnh của anh…
- Đến giờ em đẻ rồi nè!
- Tu hú… Tu hú… Tu hú…
 Con Tu Hú hét lên như chửi vào mặt vợ chồng Quạ. Giọng của con Tu Hú chát chúa như đâm vào tai, nghe mài mại như “sư bố mày… sư bố mày”. Hai vợ chồng Quạ tức lộn ruột, liếc nhau một cái thật nhanh, rồi tung cánh đuổi theo con Tu Hú chồng. Con Tu Hú chồng vừa chạy trốn, vừa tiếp tục hét lên “Tu hú… Tu hú”. Một bên trốn, một bên đuổi. Bay từ cây này qua cây nọ. Bay mãi mà không biết bay về đâu…
      Khi vợ chồng Quạ mải mê rượt đuổi con Tu Hú chồng bỏ trống hoang “ngôi nhà” vừa rộng thênh thang, vừa thoáng mát thì con Tu Hú vợ nhớ lời chồng dặn bay ngay vào tổ quạ. Thấy hai quả trứng nằm lăn lóc, nó thọc mỏ vào, hút chụt chụt. Vừa thơm, vừa béo. Vừa béo, vừa bổ. Cần cổ thò thụt. Sướng! Hút xong hai quả trứng! Tu Hú vợ lấy mỏ gắp vỏ, bỏ ra ngoài, rồi nằm xuống chờ đợi…
      Một vật thể tròn tròn chuyển dịch từ trong bụng đi ra. Một cảm giác là lạ: không đau lắm, rất thích thú. Vật thể tròn tròn ấy là quả trứng, rơi nhẹ lên lớp cỏ bồng bềnh. Con Tu Hú vợ bỗng cảm thấy mình bắt đầu làm Tu Hú mẹ. Tu Hú mẹ nhìn ngắm quả trứng tròn tròn. Biết nó là con, nhưng lòng mẹ chẳng thấy xao xuyến là bao. Dường như thương lắm. Nhưng dường như chẳng thương là bao. Nó nhìn quả trứng vài giây, rồi vỗ cánh bay đến cành tre, ngó trước nhìn sau, như đang nôn nóng chờ ai.
      Một lát sau, Tu Hú chồng bay về đáp nhẹ lên cành tre, vội vã hỏi vợ:
- Em đẻ chưa?
- Em đẻ rồi, khỏe re. Đẻ không đau mà còn được bồi dưỡng nữa.
- Mọi sự đều vuông tròn theo đúng kế hoạch của anh. Bây giờ anh mới bật mí hết mọi sự cho em nghe. Em nghe cho kỹ, ghi nhớ từng điều một, để thấy em là người đàn bà hạnh phúc nhất đời, vì có một người chồng thông minh tuyệt vời
 Một. Đẻ trứng thì phải dọn ổ. Dọn ổ thì khổ lắm. Em nhìn cái ổ của vợ chồng quạ kia. Hai vợ chồng phải vật vã bay đi về ít nhất là một trăm lần. Mỗi lần tha một cọng rác. Mỗi cọng rác làm mất ba mươi phút lao động, làm tiêu hao năng lượng tương đương với 100 calori. Ấy là chưa kể rác rến đồng nghĩa với dơ dáy. Mà tha rác thì phải tha bằng miệng. Khổ chưa! Vậy thì dại gì mà mình làm tổ. Cứ để cho vợ chồng Quạ ngu xuẩn làm tổ. Mình cứ chơi, cứ nghỉ ngơi, rồi vẫn có ổ êm tổ ấm. Em thấy cái khôn của anh chưa?
- Đàn ông các anh thì bao giờ cũng thế: vừa ngông, vừa nghênh. Ngông xong thì nghênh…
 Hai. Anh chửi vào mặt vợ chồng quạ “Tu hú… Tu hú. Tiên sư bố… Tiên sư bố”. Thế là chúng nó nổi đóa lên, rượt đuổi anh. Anh cứ bay loanh quanh từ cây này qua cây khác. Vừa bay vừa chửi: “Tu hú… Tu hú”. Anh dụ chúng nó đi thật xa để em đẻ an toàn. Khi thấy em đẻ xong, đậu trên cành tre thì anh thôi chửi. Hai vợ chồng Quạ hết giận, quay về tổ, thấy tổ vẫn bình an vô sự, vẫn sạch sẽ, trứng vẫn còn đó, tròn tròn, trắng trắng, dễ thương. Trứng của em mà chúng nó tưởng là trứng quạ. Ngu ơi là ngu!
 Ba. Anh biết là mùa đẻ làm em mất sức nhiều lắm. Anh phải đi kiếm mồi, để bồi dưỡng cho em. Nhưng một vai hai gánh, thân trai này chịu không nổi. Bởi vậy anh mới bảo em là mút trứng của quạ: vừa bổ, vừa ngon, vừa nhàn, vừa đẹp gái. Vợ đẹp, chồng đẹp, thế là đẹp đôi. Em đã thấy đàn ông chúng anh khôn chưa? Vừa khôn, vừa khéo, nhất cử lưỡng tiện, bắn một viên đạn, giết được hai con chim.
- Đàn ông các anh thì lúc nào cũng như sông như núi: sông thì dài nhưng lại quanh co; núi thì cao, nhưng vừa cao cả, lại vừa cao ngạo.
 Bốn. Sau khi em đẻ một nửa tá trứng, thì sức khỏe của em chỉ còn một nửa. Nếu em phải nằm ba tuần nữa để ấp trứng, thì thân thể mỹ miều của em chỉ còn là da bọc xương. Vì thế anh bố trí để em chỉ đẻ trứng, còn ấp trứng thì nhờ mẹ Quạ. Bà Quạ khỏe như trâu, nhưng ngu như lợn. Nó không phân biệt trứng của nó với trứng của em. Nó ấp tất, khi trứng nở thành con nó yêu tất, mớm mồi tất, bất phân biệt con của nó với con của em. Như thế mình không phải vất vả nuôi con. Con của mình Quạ nuôi. Khi lớn lên đủ lông, đủ cánh, chúng nó lại bay về với vợ chồng mình.
Em thấy cao kiến của anh chưa? Mình ngồi chơi mà vẫn được xơi nước. Quạ làm hì hục, mà chỉ được uống nước từ trên trán chảy xuống: vừa mặn, vừa chua, vừa bẩn, vừa hôi.
 ***
 Trong khi vợ chồng Tu Hú đú đởn trên cành tre thì trên cây gạo cổ thụ vợ chồng Quạ tất bật làm việc. Vợ chồng thay nhau nằm ổ để ấp trứng, bất chấp nhiệt độ cao từ trong cơ thể bốc ra và từ ánh nắng mùa hè từ ngoài thấm vào. Mồ hôi nhễ nhãi. Miệng há hốc. Thở hào hển.
 Vừa đổi phiên nằm ổ, lại đến phiên đi kiếm mồi. Chồng nuôi vợ, vợ nuôi chồng. Khi Tu Hú và Quạ non từ trong trứng đi ra, thì vợ chồng Quạ lại tất bật mớm mồi. Một bầy trẻ con mở mồm ra để đón mồi. Mồm nào cũng toang hoác, đỏ lòm lòm và sâu thăm thẳm. Bón bao nhiêu cũng không vừa. Mặt trời lặn rồi mà mỏ chim non vẫn còn toang hoác, vẫn còn đỏ lòm, vẫn còn sâu thăm thẳm. Lòng mẹ Quạ xót xa vô cùng.
Một tháng sau vợ chồng Quạ nhìn bầy con trưởng thành tung cánh bay, vừa bay vừa lượn. Bay lên cao. Lượn vòng vòng xung quanh cây gạo, rồi đáp xuống đậu trên cành gạo rực rỡ màu hoa.Tình mẫu tử, tình phụ tử thăng hoa. Vợ chồng Quạ nhìn con rồi nhìn nhau, lắc lắc cái đầu, lim dim hai cặp mắt. Hãnh diện và sung sướng quá chừng! Bỗng dưng Quạ vợ ngơ ngác hỏi chồng:
 - Tại sao những đứa con lông đen thì quây quần ở đây. Còn những đứa con lông đen có điểm thêm lông vàng-nâu thì lại dập dìu ở trên cành tre. Anh gọi tụi nó qua bên này đi!
- Quạc… quạc… quạc… cho quà… cho quà…
- Tu hú… tu hú… sư bố… sư bố…
- Anh gọi “quạc… quạc” nghĩa là cho quà… cho quà thế mà chúng nó lại chửi hỗn “tu hú… tu hú” nghĩa là sư bố… sư bố… Đau quá! Bây giờ anh mới biết là chúng ta bị lừa. Thằng Tu Hú chồng chửi chúng ta “tu hú… tu hú” để dụ chúng ta rượt đuổi nó. Lợi dụng lúc chúng ta vắng nhà, vợ nó chui vào tổ của chúng ta, để ăn trứng của chúng ta, và đẻ trứng của chúng nó vào đấy. Chúng ta ấp, chúng ta mớm mồi cho con chúng ta. Ai ngờ trong số đó có một nửa là con của chúng nó. Đau quá! Bây giờ chỉ còn là ngậm đắng nuốt cay, chờ ngày Tạo Hóa đào thải Tu Hú, đuổi Tu Hú ra khỏi dòng lịch sử của loài chim.
 Quạ vợ khóc hưng hức và nhệu nhạo rên rên: “Tu Hú đểu cáng tự bản chất! Hu… hu. Trời ơi là trời! Sao tôi khổ thế này!...”. Quạ vợ đòi cắn lưỡi tự tử. Quạ chồng vội chạy đến, lấy mỏ gãi gãi vào ức Quạ vợ, nhỏ nhẹ khuyên lơn: “Bình tĩnh… bình tĩnh. Lịch sử có mắt. Lịch sử công bằng. Nhẫn nại chờ đợi. Em yêu…”
                                                         Lm. Piô Ngô Phúc Hậu
BGCN/TGPSG Tháng 11.2013

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | JCPenney Coupons