NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG : CÙNG MẸ MARIA BƯỚC ĐI TRONG ĐỨC TIN
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

TÌM HIỂU Ý NGHĨA CHỮ TÂM

GPSG -- Có một tử tù kia suốt đời làm việc tội lỗi, giết người, trộm cướp, lòng dạ rất xấu xa. Trước khi bị xử tử, anh ta hối hận; và để chuộc lại tội lỗi của mình, anh xin hiến trái tim của mình cho người cần thay tim. Nhưng sau đó không bệnh nhân nào dám nhận trái tim của anh, vì sợ sau này cũng độc ác như anh!
Văn hoá Đông Tây tuy có nhiều khác biệt, nhưng đều lấy “tâm” diễn tả tình cảm của con người. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ “tâm”.
1. Nghĩa chữ tâm:
Tâm có hai chữ Hán là 心 và 芯 [1] ở đây là chữ 心, chữ tâm 心 là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư 心 thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:
Chữ tâm (心) có rất nhiều nghĩa:
1.1. Nghĩa thông thường: (dt.) (1) Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim). (2) Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner): tâm phúc (bụng dạ); không tâm thái (rau rỗng ruột, tức rau muống). (3) Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý). (4) Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm. (5) Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hoả. (6) Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là忄, khi đứng bên trái.
1.2. Nghĩa tâm lý và đạo đức: Ngày xưa, người ta ngộ nhận tâm là nguồn gốc của mọi sinh hoạt tâm lý, nên các tình trạng tư tưởng và tình cảm đều gọi là tâm: tâm tưởng (thinking); tâm tính (mood), tâm ý (idea). Ngày nay, theo các thí nghiệm tâm sinh lý, điều đó không đúng nữa. Dầu vậy, tâm vẫn còn được coi là: (1) Tượng trưng của tình cảm, tình yêu (love): ♥. (2) Khả năng nhận thức sự vật, suy nghĩ và cảm giác: tâm trí (mind). (3) Khả năng phán đoán về thiện ác theo quy luật đạo đức: lương tâm (conscience). (4) Toàn bộ các hiện tượng tâm lý, từ cảm giác đến tình cảm, hành vi, ý chí...: tâm lý (psychic), tâm trạng (mental = tâm thần). (5) Phần linh thiêng nơi con người, đối lập với thân xác: tâm hồn (spirit, soul = linh hồn); tâm linh (spiritual).
2. Tâm trong Phật giáo
Khái niệm “tâm” của Phật Giáo không đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau:“Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách khái quát, qua các kinh điển Phật Giáo [2] người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:
2.1. Nhục đoàn tâm (肉團心): trái tim thịt (Phật Giáo không để ý nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).
2.2. Tinh yếu tâm (精要心): chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).
2.3. Kiên thực tâm (堅實心): là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính:"Căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn là chân tâm"(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).
2.4. Liễu biệt tâm (了別心) [3]: gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức [4], tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.
2.5. Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識) [5]: thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức và không ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)
2.6. Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch nghĩa là tạng thức (藏識) [6]: chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất thiết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm).
Phật Giáo không quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm linh hồn. Theo Ngũ uẩn, tâm không phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, mà là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là căn bản cho sự tái sinh. Theo Vi Diệu pháp, tâm không phải là một cá thể, mà là một dòng tâm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Khi con người còn sống thì dòng tâm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu không có một tâm nào khác khởi lên. Khi chết, dòng tâm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tâm thức đầu tiên của kiếp sau. Duy Thức học khai triển thêm tâm thức là cái biết, căn bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử ... Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tâm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, không sinh diệt, không dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã giác ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.
3. Tâm trong Công giáo
3.1 Trong giáo lý
Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ khác nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one's being), tâm hồn (mind), linh hồn (soul), lương tâm (consciene).
3.1.1. Dùng từ “tim” [7] (con tim, trái tim, quả tim) khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm hiện hữu của con người.
- Nơi thầm kín của cá nhân, lý trí hay người ngoài không dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.
- Nơi con người chân thật với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.
- Nơi gặp gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.
3.1.2. Dùng từ “lòng con người” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [8].
- Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay không [9].
- Nơi có sự giận dữ và ganh tị là hậu quả của nguyên tội [10].
- Nơi phát xuất những ý định xấu, là nguồn gốc của mọi tội lỗi [11].
- Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lề luật mới [12].
3.1.3. Dùng từ “tâm hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm của nhân cách luân lý [13].
- Nguồn phát xuất các đam mê, đam mê căn bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo lôi cuốn [14].
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [15].
- Nơi cần thanh luyện để chiến đấu chống lại nhục dục [16].
3.1.4. Dùng từ “linh hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Nguyên lý thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa [17].
- Cái thâm sâu nhất và giá trị nhất nơi con người [18].
- Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người [19].
- Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo mà con người mang nơi mình [20].
3.1.5. Dùng từ “lương tâm” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ [21].
- Tiếng gọi con người phải yêu mến và ra lệnh phải làm lành lánh dữ [22].
- Nơi phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu [23].
Như vậy, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện con người nói chung. (2) “linh hồn” trong tương quan với “thể xác” trên bình diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên bình diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên bình diện tình cảm.
3.2 Trong thực hành
Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): "Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta" (Rm 5, 8).
Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Ai ghét bỏ tha nhân, kẻ ấy không còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35).
Kitô hữu có bổn phận “huấn luyện lương tâm” [24] và “thanh luyện tâm hồn” [25] để thể hiện chữ tâm: “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho đến tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) khi ấy, Kitô hữu hoàn tất cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do mà xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.
4. Kết luận
Trên bình diện hữu thể luận: “Tâm” trong Phật Giáo và Công Giáo có ý nghĩa rất khác biệt nhau. Tuy nhiên, cả hai đều có thể nhất trí rằng: Con người có thể và cần phải điều chỉnh đào luyện cái tâm của mình, nỗ lực thanh lọc tâm được thanh tịnh, giải thoát tâm khỏi tham ái, dục vọng, ích kỷ, hận thù.
Trên bình diện tâm linh: Đối với Phật Giáo, niềm tin về sự tương thuộc các pháp và về luật nhân quả cũng như quyết tâm đi đến giác ngộ là những nguồn cảm hứng mạnh mẽ để phát huy tình yêu đồng loại và lòng từ bi. Còn đối với Công Giáo, niềm tin vào Thiên Chúa đem lại sự gần gũi với Đấng Thiêng Liêng và khuyến khích họ vun trồng lòng bác ái và tính vị tha. Và điều hiển nhiên là: Con người ai cũng có thiện tâm thì thế giới sẽ yên trụ mãi mãi; con người có ác tâm thì thế giới sẽ huỷ diệt.
Muốn đạt tới được mong ước của Đức Hồng Y Gioan Baotixita: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hay “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, để canh tân giáo phận, đều cần đến thiện tâm.
_______________________________________________________
Ghi chú
[1] Tâm芯: bấc, tim đèn, tên một thứ cỏ xưa dùng làm tim đèn: đăng tâm (tim đèn).
[2] Bốn quyển Lăng Già Kinh Chú nêu ra 2 tâm: Hãm-lật-đà (Tự tính thanh tịnh) và Chất đa tâm (Lự tri tâm). Chỉ Quán nêu ra 3 tâm: Chất đa tâm, Hăn-lật-đà tâm (Thảo mộc tâm), Hi-lật-đà tâm (Tính tập tinh yếu tâm). Ðại Nhật Kinh Sớ nêu ra 2 tâm: Chất đa tâm và Cán-lật-đà tâm. Cán-lật-đà tâm gồm có 2 nghĩa: Nhục đoàn tâm và Chân thực tâm. Trong Duy Thức Luận Thuật Ký và Duy Thức Khu Yếu, tông Pháp Tướng nêu ra 3 tâm: Chất đa (tâm), Mạt-na (Ý), Tì-nhã-để (thức). Tông Kính Lục nêu ra 4 tâm: Hột-lị-đà tâm (Nhục đoàn tâm), Duyên lự tâm, Chất-đà tâm, Kiền-lật-đà tâm (Kiên thực tâm). Tam Tạng Pháp Số quyển 19 nêu ra 4 tâm: Nhục đoàn tâm, Duyên lự tâm, Tích tụ tính yếu tâm, Kiên thực tâm. Tóm kết lại có 6 loại tâm.
[3] Liễu biệt: (1) Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; (2) Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành; (3) Thấy, nhận biết.
[4] Phật Giáo quan niệm có tám loại hình tướng của tâm gọi là bát thức (thức là sự phân biệt, phân tích, phân loại và nhận biết đối tượng). Tám thức này bao gồm năm thức giác quan: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức; ý thức; mạt-na thức (tương ứng với ý niệm về bản ngã) và a-lại-da thức (là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình). Sự phân chia tám thức chỉ là một phương tiện để dễ tìm hiểu những mặt khác nhau của thức; nó không phải là cố định như thế. Thực ra, tám thức ấy chỉ là tám tác dụng hay tám cách biểu hiện của nhận thức, chứ không phải là “tám cái tâm” riêng rẽ, biệt lập. Tuy là có tám thức, nhưng các thức đều liên hệ mật thiết với nhau; tuy một mà là tám, tuy tám mà là một, cho nên chúng có thể thu về một mối, đó là thức - tức là căn bản thức hay a-lai-da thức.
[5] Mạt-na (S: manas) thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo Duy thức học, mạt-na được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên.
[6] A-lại-da thức (S. ālayavijñāna) còn gọi là A-đà-na, Như Lai tạng, chân thức hay thức căn bản; A-lại-da (S. ālaya) nghĩa là tàng trữ, chất chứa duy trì mọi tập quán, xu hướng, ảnh tượng lưu lại trong mỗi người.
[7] Xem Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (GLHTCG), số 2563.
[8] GLHTCG, số 1958.
[9] x. Dt 6, 5; 29, 3; Is 29, 13; Ed 36, 26; Mt 6, 21; Lc 8, 15; Rm 5, 5.
[10] GLHTCG, số 2259.
[11] Mc 7, 18-21, GLHTCG, số 1873.
[12] GLHTCG, số 715.
[13] GLHTCG, số 2517.
[14] x. Mc 7,21, GLHTCG, số 1764-1765.
[15] GLHTCG, số 1954.
[16] GLHTCG, số 2517.
[17] GLHTCG, số 363.
[18] x. Mt 26-38 và Mt 10, 28; 2Mac 6, 30.
[19] x. Mt 16, 25-26; Ga 15, 13 và Cv 2, 41.
[20] GS 18, 1 ; x 14, 2. GLHTCG số 33.
[21] GS 16, GLHTCG số 1776.
[22] x. Rm 2, 14-16.
[23] x. Rm 1, 32, GLHTCG số 1777.
[24] Xem GLHTCG số 1783-1784.
[25] Xem GLHTCG số 2532.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

LÀNG XÃ VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


Trên con đường “đến hiện đại từ truyền thống”, GS Trần Đình Hượu (1926 – 1995) – một trong các học giả hàng đầu ở Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc, mà nổi lên là nghiên cứu về Nho giáo, về vai trò của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Đây là một công trình nghiên cứu của GS Trần Đình Hượu, với tư cách một bài giảng, trình bày tại Viện nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật Việt Nam năm 1991. Hai mươi mốt năm đã trôi qua, song thiết nghĩ, nhiều nội dung của công trình này vẫn còn ý nghĩa thời sự của chúng…    

*Làng xã ở phương Đông
Làng họ

Ở đây tôi không dùng chữ làng xã tự trị mà tôi  dùng chữ làng họ. Sự tập trung chuyên chế thành thể chế chính trị – xã hội như thế đã hình thành từ trước khi chế độ cộng sản nguyên thủy chưa tan rã để đến mức ra đời hai giai cấp đối lập trong công xã là chủ nô và nô lệ. Ở bên kia, ở phương Tây, chủ nô và nô lệ ra đời trên cơ sở sự tan rã công xã; ở đây, ở phương Đông, quá trình đó chưa diễn ra trọn vẹn mà chỉ có một tình hình được Dương Vinh Quốc gọi là “chế độ chủng tộc nô lệ”. Cái này là cơ sở của vấn đề làng họ mà tôi nói. Tức là thế này: lúc bấy giờ, khi chưa phát triển thành sự đối lập giữa chủ nô và nô lệ thì ý thức về tư hữu chưa phát triển. Ý thức tư hữu chỉ phát triển với sự ra đời của hai giai cấp đối lập là nô lệ và chủ nô. Còn ở đây là chưa. Thế nhưng ông vua gọi là đế ấy cử quân đi chinh phạt một vùng đất, đánh chiếm một vùng đất và tuyên bố vùng đất đó là của mình. Chế độ chiếm hữu nô lệ bằng những cuộc chiến tranh, chiếm một vùng đất và chiếm cả người ở trên vùng đất ấy. Sau đó cử người cùng họ, nghĩa là người của tộc Ân đến thống trị. Chỗ này là chỗ sinh chuyện. Cử người cùng tôn tộc đi thống trị, người tộc Ân được cử đến phải xây thành tự bảo vệ và ở trong thành ấy. Xây thành cũng có nghĩa là lập quốc, lập quốc tức là chiếm một vùng đất mới mà xây thành và người ở trong thành là người của tộc Ân. Cho nên nô lệ ở đây, nô dịch ở đây là nô dịch của một chủng tộc, chủng tộc Ân đối với những tộc bị chiếm. Như thế giữa ông vua thiên tử với ông vua chư hầu có hai quan hệ: quan hệ vua tôi và quan hệ họ hàng, có duy trì được cả hai quan hệ thì mới bảo vệ được sự thống nhất. Ông vua chư hầu vừa là bề tôi của ông vua thiên tử về mặt chính quyền, vừa là con em của vua thiên tử về mặt họ hàng. Cho nên nhà Ân duy trì sự thống trị bằng hai quan hệ: quan hệ thiên tử – chư hầu và quan hệ tôn tộc. Và nhà Ân cường điệu: trung với thiên tử và hiếu với tổ tiên là một điều quan trọng để bảo vệ sự thống nhất. Và vì vậy, Trung Quốc là nơi tổ chức họ hàng rất chặt. Cái chuyện chia ra “cửu tộc” tức là tính từ mình mà đi lên bốn đời: cha, ông, cụ, kỵ và tính từ mình đi xuống bốn đời: con, cháu, chắt, chút, từ đó thành tổ chức cửu tộc. Tổ chức cửu tộc còn có thêm hàng ngang là hàng an hem, hàng chú bác nữa,… là tổ chức kiểu Trung Quốc, nó rất chặt, chứ ở các nước khác thoạt đầu không có tổ chức họ hàng chặt như vậy. Vì thế mà cách nhau bao nhiêu đời vẫn tìm ra được, vẫn truy ra được mình là anh hay là em. Ngày nay có nhiều người đi tìm gia phả và còn tìm ra được những gia phả cách đây 20 – 30 đời và vẫn nhận ra được tôi là em hay là anh của anh. Đó là căn cứ vào cái tổ chức cửu tộc và cái phả hệ. Ở Trung Quốc có chuyện rất thú vị là như thế này: 500 – 600 năm sau vẫn tìm ra được có họ với nhau hay không. Ai là anh, ai là em và điều đó được ghi trong sách Luận ngữ.

Có một lần người ta hỏi Khổng Tử là vua nước Lỗ có biết lễ không? (Vua nước Lỗ là vua nước quê Khổng Tử). Khổng Tử trả lời “biết lễ” thế nên cái ông hỏi ấy bực mình lắm, ra ngoài nói với học trò của Khổng Tử: “Ai nói rằng người quân tử thì phải nói trung thực?”. Ông ta nói thế vì vua nước Lỗ là người cùng họ với vua nước Ngô, thế mà vua nước Lỗ lại đi hỏi con gái vua nước Ngô, gọi là Ngô Mạnh Tử. Thế vua nước Lỗ mà biết lễ thì có ai là không biết lễ? Ở Trung Quốc xưa kia, người “đồng tính” (cùng họ) là không được lấy nhau. Mặc dù vua nước Lỗ và vua nước Ngô cùng họ đã hơn 600 năm rồi kể từ khi Chu Công phân phong. Nhưng dẫu là cách nhau 600 năm cũng không được lấy nhau. Vua nước Lỗ đi hỏi lấy con gái vua nước Ngô vốn là người cùng họ là trái lễ. Nhưng vì vua nước Lỗ là vua của Khổng Tử nên Khổng Tử không dám nói vua của mình là vô lễ. Vì Khổng Tử nói là vua nước Lỗ biết lễ nên ông kia mới ra ngoài bình luận là: “Ai bảo người quân tử là người trung thực?”. Vua nước Lỗ lấy con gái vua nước Ngô là Ngô Mạnh Tử, vua nước Lỗ mà biết lễ thì có ai mà không biết lễ? Học trò vào nói lại với Khổng Tử như vậy, Khổng Tử trả lời rất hay. Khổng Tử nói: “Tôi thật là may mắn, có điều gì sai thì người ta mách cho mà biết”. Nói như thế là thế nào? Khổng Tử vẫn không nói vua nước Lỗ là trái lễ, Khổng Tử vẫn không nói mà lại nói tránh đi theo một cách khác: “Tôi thật là may mắn, có điều gì sai thì người ta mach cho mà biết”.

Sáu trăm năm sau vẫn còn biết được họ hàng, đó là điều quan trọng. Và một điều nữa cũng không kém quan trọng là khi đã nô dịch bằng cách chủng tộc như vậy, chiếm từng vùng như vậy, hay là thần dân hóa từng vùng như vậy thì điều nên chú ý là cách nô dịch đã khác mà thân phận cũng đã khác. Cách nô dịch bằng quân sự và nhà nước làm cho thân phận thần dân khác với thân phận nô lệ, nông nô. Là nô lệ tức là biết rằng nhân cách bị mất, không còn là người nữa, đã bị tước đoạt quyền làm người. Còn thần dân thì không bị mất cái đó. Từ cha vua trở xuống đều bị coi là thần dân cả, có ai mất quyền đâu, chỉ có người trên người dưới thôi, không có chuyện mất quyền làm người. Cho nên vấn đề quyền làm người là không rõ. Là nô lệ thì không có quyền làm người, nên họ chống lại để giành quyền làm người. Là nông nô cũng cảm thấy quyền làm người cũng bị mất đi phần lớn nên muốn giành lại để có quyền làm người. Còn là thần dân thì không cảm thấy bị mất quyền làm người. Bởi thế tôi mới nói là ở ta không có nên không mất. Có có đâu, nó có quyền làm người đâu, nó là thần dân cả mà, làm gì có quyền làm người. Vì không có nên không mất, vì không mất nên không đòi. Cho nên ở ta không có quyền đòi cho nhân cách, không có. Ai cũng cảm thấy được cả, chỉ có ai trên, ai dưới thôi, mà đâu chả có trên dưới. Anh đi đâu thì cũng có trên dưới. Bét ra thì anh cũng có vợ con mà áp bức, cuối cùng ai cũng có trên có dưới cả thôi mà. Đó chính là điều tôi muốn nói là khác nhau về cách nô dịch và khác nhau về thân phận. Công xã trở thành một đơn vị phụ thuộc vào chủ, mà chủ ở đây là nhà nước cho nên một mặt thì nó vẫn giữ là công xã, nhưng mặt khác nó là một đơn vị hành chính và dần dần trở thành làng. Làng là đơn vị hành chính. Làng vừa là công xã vừa có quan hệ chính quyền và thuộc trong phiên chế của chính quyền. Có một sự kiện rất có ý nghĩa là ở Trung Quốc trải qua năm thế kỷ chiến tranh, từ thời Xuân thu đến thời Chiến quốc và đến thời Hán, năm thế kỷ chiến tranh như vậy cho nên dân lưu tán, bỏ chạy khỏi quê, mà khi chạy như vậy, thường thường là người ta chạy theo họ, bà con chạy với nhau. Đến thời Hán Vũ Đế có một hiện tượng được ghi nhận là hương đảng tộc cư (làng ở theo họ) và đó là một thực tế mà tất cả các chính sách cai trị phải nhìn đến. Và ở nước ta, đến bây giờ cũng là kiểu làng họ như vậy. Ngay đến bây giờ cũng thế, đi kinh tế mới thì bao giờ cũng đi cùng bà con và cuối cùng, đến nơi thì người ta cũng lập cái làng y như cũ. Thế mới có chuyện đùa, chuyện vui trong sử học là anh Bùi Văn Nguyên nói rằng An Dương Vương gốc là ở Nghệ An, Loa thành là ở Nghệ An chứ không phải là ở ngoài này! Là vì sao? Là vì tất tên vùng đó đều giống như vùng Cổ Loa của Đông Anh hết. Tất cả các địa danh liên quan đến sự tích An Dương Vương đều có ở vùng Nghệ An gần như không thiếu cái nào. Cho nên Bùi Văn Nguyên bảo tất cả di tích còn đủ nguyên như vậy thì rõ là An Dương Vương ở Nghệ An và đền thờ An Dương Vương còn đó. Tôi không làm sử để để trao đổi lại với anh, nhưng anh ấy quên mất một chuyện, nếu như dân đã chạy khỏi quê đến một vùng đất mới toàn bộ thì họ sẽ lập lại trên vùng đất mới ấy toàn bộ cái cũ và tên cũng gọi đúng như vậy.

 Năm kia ở Đà Nẵng, tôi có lên một xã thuộc Tam Kỳ, tôi thấy ở đó có tất cả y như nhà tôi ở quê, từ cây râm bụt trồng thế nào, cây ngọc anh trồng như thế nào, rào mạn hảo thế nào, tất cả đúng ý như ở Nghệ An. Tôi hỏi ra thì tổ tiên nhà đó là người Nghệ An. Và các anh vào nhà cụ Hồ ở trong này cũng sẽ thấy như vậy, nhà cụ Hồ trồng y như ở Nghệ An, vườn cây trồng giống Nghệ An lắm, là vì người ta mang theo tất cả những cái đó vào. Cho nên chuyện qua loạn lạc, di tản, người ta đi lưu tán, người ta mang theo cả làng cả họ và tổ chức là giống y như vậy, đó là một điều nên chú ý.

Hiện tượng tổ chức của chính quyềng trung ương chỉ với đến huyện cũng rất thú vị. Cái chế độ quận huyện mà nước Tần tực hiện từ thế kỷ IV, trước Tần Thủy Hoàng. Trong từ điển định nghĩa quận là gì? Quận là quần chi (là làm thành bầy), huyện là huyền chi (là gắn bó lại). Thế thì quận là cái gì và huyện là cái gì? Quận huyện tức là kết hợp các làng xã lại thành một đơn vị lớn hơn để bắt phu, bắt lính cho dễ, quận huyện là như vậy. Ở bên dưới công xã là không thay đổi. Bộ máy trung ương dừng lại ở quận huyện, còn bên dưới là làng xã tự trị. Đó là cái mà Mác nói: chế độ chuyên chế chồng lên trên (superposer) các làng xã chứ không phải thay đổi bên dưới.

Vì cái cách quần tụ theo họ với tính tự trị như vậy, cho nên làng thành một tổ chức rất bền vững.

Một số đặc điểm của làng

Thứ nhất, về kinh tế: làng có công điền và công quỹ.

Công điền là dấu vết của công xã, tức là ruộng đất của công xã, nhưng khi nó thần thuộc vào vua rồi thì vua tuyên bố đó là công điền, của vua. Tuy vua tuyên bố là công điền, nhưng vua không lấy đi mà vẫn dể lại cho làng xã. Công điền này vẫn chia cho dân cày như thời công xã, chỉ có điều là phải làm thêm nhiệm vụ tô thuế. Tức là tổ chức vẫn giữ nguyên. Công điền từ ruộng công xã biến thành, thêm vào đó là nhiệm vụ tô thuế. Đã là công điền của vua quân cấp cho dân làng thì lại có thêm cái tiếng là ơn vua cấp ruộng, từ đó người dân thấy cơ sở tất yếu là phải nộp thuế và đi phu! Công điền là của chung, của làng, nên chỉ cấp cho dân làng (dân bản quán); những người ở nơi khác đến (dân ngụ cư) không được cấp. Ngay chính dân bản quán cũng chỉ là những người đã được vào sổ làng mới được cấp, chưa vào sổ làng là không được cấp. Nên đẻ con ra là phải biện lễ, mời làng ăn uống để ghi tên vào sổ làng. Và khi đã có tên trong sổ thì mới được cấp công điền. Vì như thế, mới sinh ra hai chuyện. Một là  ngụ cư. Dân ngụ cư là không được chia công điền, nhưng mà ngụ cư vẫn là thần dân cho nên vẫn phải đi phu, vẫn phải đi lính, vẫn phải nộp thuế,… vì đây là nộp với tư cách thần dân chứ không phải nộp với tư cách dân làng. Hai là vào sổ cũng có chuyện vào chậm vào sớm. Những người có thế lực thì được vào sổ sớm, nhưng có nhiều người nó cứ ỳ ra mãi, nó có vào sổ cho đâu. Anh biện lễ, rồi bao nhiêu lần ăn uống thì hương lý nó mới vào sổ cho. Vì lẽ đó, việc hào lý ăn chặn của dân chính là ăn chặn của dân ngụ cư và chuyện vào sổ chính là chuyện ăn tiền. Cho nên trong đời sống làng xã, nhất là dân ngụ cư thì khổ vô cùng. Có người ở xã đến năm đời rồi mà vẫn chưa được vào sổ.

Công quỹ thì trích từ thuế và quyên góp của người làng. Vì làng có những công việc chung, nên có thể quyên góp của người làng. Và cũng phải có những người chức dịch để quản lý sổ sách, quản lý công điền, công quỹ. Chính đám đó mượn tiếng quyên góp vào những công việc chung mà sinh ra những cái tệ trước kia hay nói đến là phù thu lạm bổ, tức là thu nhiều hơn mức quy định là phù thu, lạm bổ giao cho người ta đóng góp quá mức. Phù thu lạm bổ là việc làm của đám hương lý trong làng đối với dân. Từ nền kinh tế có công điền nên nó đẻ ra những chuyện như vậy.

Điểm thứ hai về chính làng xã. Vì là kiểu đơn vị hai “mang”, một “mang” là làng và một “mang” chính quyền, là đơn vị hành chính của trung ương. Cho nên trong làng theo tôi có hai thứ chính quyền. Một loại mang dấu vết công xã bao gồm bô lão, thân sĩ và những người đàn anh có thế lực, có thể gọi là hào (thân sĩ, thân hào) – đó là dấu vết của một bộ máy làng xã cũ, trong đó nên chú ý là đại biểu của các họ, tức là trong bộ máy thân hào, bộ máy làng xã có bô lão, có các thân sĩ và có các bậc đàn anh mà gọi chung là hào. Trong các bậc đàn anh này nên chú ý là có đại biểu của các họ. Những người này quyết định mọi việc làng. Với tư cách là làng thì bộ máy đó quyết định. Còn một thứ chính quyền thứ hai là gồm hương lý, tức là có lý trưởng và những người có chức dịch, làm công việc chính quyền thực sự. Ví dụ như hương bộ là để giữ sổ sách, hương kiểm là để làm công việc trị an,… tức là những người chức dịch do lý trưởng đứng đầu. Đây là một bộ máy chính quyền thực thụ, được cấp trên công nhận. Người đến gặp quan huyện là lý trưởng chứ không phải là tiên chỉ. Tiên chỉ không gặp quan huyện, chỉ có lý trưởng đến gặp quan huyện. Tức là đại diện có tính chất nhà nước. Đó là người thừa hành các công việc trên giao: trước hết là bắt phu, bắt lính, nộp thuế, đôn đốc, giữ an ninh,… nghĩa là việc do bộ máy hương lý đảm trách. Theo quan niệm trật tự, thì hương lý phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước, nhưng công việc gì ở trên đưa về, lý trưởng lại phải bẩm với tiên chỉ và tiên chỉ ra lệnh thực hiện bằng cashc này hay cách kia, lý trưởng thường là phải thi hành theo. Cho nên lệnh trên về chưa chắc đã được thực hiện, mà lệnh của thân hào mới có ý nghĩa quyết định. Vậy là luật pháp và chỉ thị của cấp trên chưa chắc đã được thực hiện, cho nên mới có chuyện “phép vua thua lệ làng”. Việc quốc gia đại sự được vận hành đến đâu, việc cai trị người dân như thế nào trước hết phải thông qua bộ máy cai trị làng xã, điều này gây cản trở rất lớn tới sự cai trị của chính quyền trung ương. Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã nhận ra được tình trạng này nên họ thiết lập một kiểu chính quyền địa phương kiểu mới: tập trung các thân hào vào hương hội trong tư cách là bộ phận có trách nhiệm hợp sức, giúp việc cho lý trưởng và thực hiện quyền đã bị hạn chế.

Giúp việc cho lý trưởng tức là nhất thể hóa chính quyền vào lý trưởng, và những bộ máy làm việc của làng trở thành hội đồng. Nhờ vậy chính quyền thực dân Pháp mới nắm được thôn xã, đây là điều khác với trước kia. Cho nên lúc bấy giờ mới có tên chánh hương hội, phó hương hội. Đây chính là ông tiên chỉ, ông thứ chỉ đã được chuyển hóa thành hội đồng giúp việc cho lý trưởng; đây là danh từ mới xuất hiện thời Pháp thuộc chứ trước kia không có. Đó, bộ máy chính quyền thì có hai cái như vậy.

Việc làng

Việc làng là một việc hết sức phức tạp. Làng là một đơn vị gắn bó chặt chẽ, tổ chức ổn định và lâu đời. Trong làng có họ, mà cũng là một tổ chức được xây dựng chặt chẽ theo dòng máu, có nhà thờ họ, có trưởng tộc, có ruộng tự điền hương hỏa, có mồ mả cha ông, có những lệ đóng góp,… mà tộc trưởng và cha chú ở trong họ là người chỉ huy làm cho họ  thành một đơn vị rất chặt chẽ. Trong làng có họ to, họ nhỏ. Họ to hoặc vì thế lực này, thế lực kia hoặc là đông đinh tráng nên có thế lực. Họ to có quyền hơn họ nhỏ. Một anh trung nông ở một họ nhỏ không có thế lực bằng một anh bần nông ở họ to. Chẳng hạn một công việc ở làng mà người ta coi là kém, mất giá trị nhất là mõ. Mõ ở làng xã là bị kinh nhất. Người của họ to thì nghèo mấy cũng không bao giờ làm mõ, mõ thường đẩy cho các họ nhỏ. Hoặc là chuyện bắt phu, nó cứ đè vào mấy họ nhỏ nó bắt, chứ họ lớn ít khi bị bắt phu. Quan hệ giữa các họ trong làng là như vậy. Tình cảm máu mủ họ hàng gắn bó với nhau và có trách nhiệm với nhau, do đó quan hệ trong làng thực tế có nhiều chỗ là quan hệ giữa các dòng họ, nhiều chỗ thực tế là liên minh giữa các dòng họ (hoặc là liên minh, hoặc là thù hằn). Dòng họ này với dòng họ kia liên minh với nhau, hoặc đối địch với nhau. Và chính các chính quyền của xã điều tiết cái quan hệ đó. Điều tiết cái quan hệ tộc họ rất quan trọng. Nhân tiện tôi nói một chuyện gần đây. Năm ngoái tôi về một xã ở Thường Tín, thôi thấy có một bà làm bí thư mười năm rồi, mà bà ấy không có năng lực; tôi mới hỏi thì được biết trong làng có ba họ to, một họ làm chủ tịch xã rồi, một họ làm chủ nhiệm rồi, một họ làm công an rồi, bây giờ mà một họ nào đó làm bí thư nữa thì trở thành thống trị làng, nên họ cử một bà ở họ nhỏ. Bà ấy chỉ có năng lực là điều hòa được ba họ kia, thế thôi. Bà ấy là người liên lạc giữa ba họ để mà điều chỉnh. Vì vậy là bà ấy làm bí thư mười năm nay. Trong các làng xã hiện nay, quan hệ giữa các dòng họ vẫn rất quan trọng. Năm kia tôi có một cậu học trò Khoa Văn, anh ấy kể cho tôi câu chuyện thế này: họ của anh ta trước đây là một họ rất có thế lực, thế nhưng sau Cách mạng tháng Tám thì những người có máu mặt lên Hà Nội hết, ở làng, họ này chỉ còn lại một số gia đình nông dân. Thế nên là người của cái họ đó không bao giờ được đi học đại học nữa, vì người ta bảo họ này có nhiều người đi học rồi, bây giờ để dành cho người khác. Nên hễ có giấy gọi về là người ta cất, không cho đi nữa, thế là một. Hai là cứ đến tuổi là phải đi bộ đội, rồi cuối cùng người họ ấy phải bỏ họ, bỏ làng mà đi, rời đi nơi khác không dám ở đấy nữa.

Thế cho nên vấn đề họ ở ta là rất quan trọng. Dân làng bị ràng buộc với nhau vì tình nghĩa, vì quyền lợi, vì nghĩa vụ, không ai muốn bỏ làng mà đi, vì ở làng có họ hàng, có láng giềng; đó là một sự thu hút. Nhưng cũng nên nhớ một điều nữa là nhà nước phong kiến không cho bỏ làng. Đây là điều rất quan trọng. Ta hay khen Chiếu khuyến nông của Quang Trung, vì sao? Vì sau chiến tranh người ta bỏ làng tan tác đi rồi, lấy dân ở đâu mà đi phu, lấy dân ở đâu mà đi lính, cho nên phải lôi dân về, cấp ruộng cho họ cày để còn có chỗ bắt phu, đi lính. Để khuyến nông, bắt lý, hương phải gọi dân về, ổn định sinh hoạt là để làm nhiệm vụ đối với nhà nước. Cái đó ai cũng làm cả chứ không phải riêng Quang Trung. Gia Long cũng làm, Tự Đức cũng làm, vì đó là một tất yếu, phải giữ lấy làng, không cho dân đi khỏi làng. Trước đấy, sau khi chấm dứt chiến tranh, loạn ly, bao giờ triều đình cũng có lệnh cho các làng chiêu tập những người lưu tán về và vua ra chiếu khuyến nông để khôi phục lại làng.

Các làng đã từ những công xã rất lâu đời mà thành nên thường có thờ thần Thành hoàng làng, thờ như một thứ tôn giáo, thần Thành hoàng là thần của làng và thường là do thờ thần Thành hoàng làng nên hình thành tục lệ của làng. Làng này có tục này, làng kia có tục kia,… mà nếu như mình không biết thì cư xử rất phiền vì nhiều khi không biết người ta kiêng cái này, cái kia. Vì có đền, có miếu, có Thành hoàng cho nên có lễ hội của làng, từ đó mà có những tục lệ, những kiêng kỵ riêng. Nói đấy là tôn giáo thì không đúng, nhưng nó có ý nghĩa như vậy. Cuộc sống chung đòi hỏi có những nề nếp chung cho nên làng có lệ làng. Lệ có khi ghi thành hương ước, nhưng cũng có khi không thành hương ước gì cả mà chỉ là cha truyền con nối, nói với nhau thôi, truyền miệng nhưng mà rất nghiêm khắc; lệ làng rất nghiêm khắc, anh trái lệ làng là không được. Cho nên ngoài phép vua, ở làng còn có lệ làng. Các bạn xem chèo Quan Âm Thị Kính thấy có đoạn Thị Kính bị bắt vạ hay là các bạn còn nghe nói những người chửa hoang bị gọt tóc bôi vôi, trôi sông,… đó là lệ làng chứ không phải phép nước. Nhưng mà các bạn hình dung thử xem, cứ có một lỗi mà bị tiên chỉ, thứ chỉ lên án thì coi chừng. Có hai hình thức nguy hiểm: Một là phạt vạ, phạt vạ là cứ phải làm cỗ, mời làng đến ăn, ăn cho đến khi các cụ tuyên bố tha mới thôi, nếu không thì cứ ăn mãi, đó là điều kinh khủng. Hai là như kiểu rút phép thông công bên tôn giáo, là cấm người làng không được quan hệ, tắt lửa không được cho lửa, ốm đau không được đến thăm,… có nghĩa là khai trừ ra khỏi làng. Đó là lệ làng, cái lệ làng đó làm cho người ta rất sợ.

Việc làng theo truyền thống công xã thường được đem ra bàn bạc trong các cuộc họp làng. Ở đây cũng có vấn đề. Nhiều người nói ở phương Đông dân chủ hơn là vì chuyện gì cũng đem ra làng họp bàn. Về nguyên tắc mà nói thì họp làng, trừ đàn bà ra, đàn ông là được dự cả. Cứ có tên trong sổ đinh là được dự, trừ đàn bà. Bởi vì việc làng, việc nước là của đàn ông chứ không phải việc của đàn bà. Nhưng nên nhớ trong làng có sắp xếp ngôi thứ, thứ tự trên dưới, từ ông tiên chỉ, thứ chỉ ngồi trên cùng rồi đến bàn hai, bàn ba, bàn bốn, bàn năm, bàn sau,… tức là người nào cũng có vị trí của mình chứ không phải ai muốn ngồi đâu thì ngồi. Khi phát biểu thì thực ra chỉ có mấy bàn trên phát biểu, mấy bàn dưới chỉ ngồi mà nghe chứ không được nói, thường gọi là không được “vô phép nói leo các cụ”. Chuyện là chuyện của các cụ, không được vô phép nói leo. Vì vậy làm gì có dân chủ, thực ra là các cụ nói và anh em dưới này là trai tráng chỉ vâng dạ thôi. Thế mà cũng được mang tiếng là dân chủ, thực ra làm gì có dân chủ. Nói cho đúng thì đó cũng là chuyện bề ngoài, chứ bề trong là các họ, đại biểu các họ thương lượng với nhau rồi, ra ngoài chỉ là công khai thôi. Việc làng là như vậy. Quyền ăn nói, chỗ ngồi trên là thuộc về bậc cha chú, con em chỉ ngồi nghe và đồng ý. Từ việc làng như vậy mới đẻ ra chuyện giành ngôi thứ. Anh có ngôi thứ anh mới được ăn nói, cho nên anh phải giành ngôi thứ, mua ngôi thứ, ghi tên cho sớm rồi thì làm cách này cách kia để có ngôi thứ và chờ đợi “sống lâu lên lão làng”, để đến lượt mình ăn nói. Các bạn biết là trong giới khoa học ta ngày nay cũng có chuyện đó, cũng “sống lâu lên lão làng”. Có người làm việc lâu năm nên phán như trời như đất mà các anh em bên dưới trẻ tuổi hơn, hiểu đúng hơn cũng không dám nói. Chính cái đó là lề thói từ việc làng của ta mà ra.

Trong cuộc sống cộng đồng, làng luôn cần được bảo vệ chống lại thiên tai, chống lại địch, cướp,… cho nên hễ mà bô lão đánh mõ lên thì trai tráng phải vác gậy gộc, giáo mác ra để bảo vệ. Đó là điều bình thường, cứu trợ nhau là bình thường. Nhưng nếu như các cụ bô lão thích đánh làng bên mà ra lệnh đánh thì người ta cũng đánh. Các anh biết những làng có đất bồi, các bãi bồi, tức là một diện tích di động, cần phải tranh nhau, hoặc là có những chỗ giáp ranh làng xã tranh nhau, thì chính là chỗ để các làng huy động dân ra đánh nhau, có khi đánh nhau đến hai, ba mươi năm mà vẫn chưa xong. Tôi nghe nói gần đây chuyện này lặp lại khá rộng rãi vì sau khi hợp tác xã nông nghiệp xóa đi rồi, trả lại ruộng đất là dễ xảy ra tranh nhau, thậm chí đem cả súng ra. Xã đội trưởng, bí thư chi bộ, chủ tịch đứng ra chỉ huy hẳn hoi chứ không phải bô lão.

Tóm lại, làng là một đơn vị có kinh tế riêng, có chính quyền riêng, có tôn giáo riêng, có võ trang riêng và có tư pháp riêng.

Làng như thế là làng tự trị. Thực ra bộ máy ở bên trên không thể khống chế nổi cho nên phải dể cho làng quyền tự trị, tức là chỉ đòi hỏi đi phu, đi lính, nộp thuế đủ, thế là được, còn ở dưới nó sắp xếp trong làng thế nào kệ nó.

Chính quyền cấp trên dừng lại ở huyện và đó chính là vấn đề Mác nói: chính quyền chuyên chế chồng lên trên các làng xã. Chính cái này mới là quy định sự phát triển của các nước phương Đông. Sự phát triển của phương Đông không phải giống nhau. Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên không phải là giống nhau hoàn toàn đâu… Ở Nhật Bản, từ thế kỷ VII, Thành Đức Thái Tử đưa mô hình Nho giáo về là lập cái mô hình chuyên chế bên trên làng xã, nhưng không khống chế được đám lãnh chúa. Từ thế kỷ VII cho đến khoảng thế kỷ XIII, các lãnh chúa trỗi dậy và cuối cùng thực tế là nhà vua không làm được gì cả, chính quyền trung ương không làm được gì hết, các lãnh chúa khôi phục ở bên dưới. Thế là làng xã phụ thuộc vào lãnh chúa, lãnh ấp chứ không còn là của chính quyền trung ương, vốn nắm đến huyện, được nữa. Và sự phát triển của Nhật Bản là đi theo một cách khác. Còn ở ta thì sản xuất trồng lúa nước, mà trồng lúa nước thì không thể bỏ mà đi được, anh phải ở bên cạnh mà trông nước, mà làm cỏ,… Ở ta là quần tụ theo làng, mà quần tụ theo làng lâu đời thì nó sẽ ra làng họ rất rõ, giống như Trung Quốc.

Tổ chức làng họ

Cũng nên nhớ rằng trong lịch sử có những cái làm như vậy, nhưng cũng có các yếu tố tự phát từ bên trong. Nhà nước chuyên chế không chấp nhận chính quyền địa phương, không chấp nhận hào trưởng. Nhưng hào trưởng cứ lên, gặp chiến tranh, nhà vua không khống chế được thì hào trưởng nó cứ phát triển lên. Nhưng phải phát triển đến mức nào đó, mới giành được quyền ngang với vua, chứ nếu không thì nó vẫn thuần phục vua. Cái kiểu các ông tù trưởng ở Sơn La trước kia là như vậy. Họ là hào trưởng nhưng họ không chống vua, họ chấp nhận chính quyền trung ương. Vua làm cách gì? Vua phong tước, gả con, thưởng tước cho họ đồng thời họ vẫn làm nhiệm vụ thần tử. Nhà Lý là triều đại đầu tiên ở ta làm giỏi cái việc “ky my” (ràng buộc lỏng lẻo) như thế đối với các dân tộc thiểu số. Trong một vùng nội địa nào đó thì mình phải thực hiện cách cai trị làng xã như thế này, nhưng đối với một vùng nào đó thì mình lại phải thả. Quá trình từ Đinh Bộ Lĩnh cho đến nhà Trần là một quá trình giải quyết các vấn đề phân tán. Nhưng giải quyết rồi thì ở các vùng miền núi, hào trưởng vẫn lên được, ở các làng xã, cường hào vẫn mọc lên, không mọc ở mức hào trưởng nhưng mọc ở mức cường hào. Như thế, thực trạng của ta về vấn đề quan hệ giữa trung ương với địa phương là nảy sinh theo cách này. Bây giờ các tỉnh mà trở thành vương quốc, các xã thành vương quốc chính là vì cái tổ chức làng xã của ta không giải quyết được. Trong một bài về làng họ mà tôi đã viết và đăng trên tạp chí Xã hội học, tôi có viết: “Nếu như tập trung làng có quyền chính trị, có quyền kinh thế, có quyền công an, có quyền kiểm soát hộ khẩu, có quyền văn hóa,… tất cả như vậy thì đố mà làm được, người dân bị cột chặt vào đấy. Chịu không làm được”. Cho nên cách tổ chức làng theo kiểu mới như thế nào thật sư là một vấn đề.

Tôi cho rằng những vấn đề của phương Đông là: Gia đình nên tổ chức như thế nào? Làng xã nên tổ chức như thế nào? Các bộ máy nhà nước nên tổ chức như thế nào? Đó là những vấn đề phải đặt ra. Nên chú ý là ta làm nhiều cái giống như cái cũ, nhà nước của ta thời gian vừa qua là khôi phục lại cái nhà nước cống nạp và bao cấp như cũ. Làng của ta là khôi phục lại cái làng tự trị cũ. Cái gia đình của ta một hồi phá đi và bây giờ nó khôi phục lại như cũ, hiện nay gia đình là khôi phục lại như cũ. Đó chính là việc phương Đông trước các vấn đề của nó. Thành thử là khi anh không ý thức được trên một con đường anh gặp phải những cái gì và phải tránh những cái gì, thì anh làm một hồi, nó sẽ trở lại đúng những cái anh chống nhất, đúng những cái anh ghét nhất. “Ghét của nào trời trao của ấy” là thế.

Vấn đề đô thị khó phát triển và khởi nghĩa nông dân, đó là hai vấn đề đặc thù mà tôi cho rằng có ảnh hưởng lớn trong cách nhìn các vấn đề của phương Đông. Vì như tôi đã phân tích ở trên, các vấn đề thuộc về gia đình, làng xã, nhà nước ở phương Đông có cách tổ chức riêng chứ không giống với thế giới nói chung. Tức là phương Đông có những đặc điểm riêng.

Bộ máy quan lại và đẳng cấp sĩ phu

Nhà nước chuyên chế có một đặc điểm là nó làm chủ một vùng lãnh thủ cực lớn mà sức nó không ôm nổi. Các bạn thử tưởng tượng cái đế chế như cái đế chế nhà Hán, bao gồm từ vùng Trung Á suốt đến giáp Triều Tiên, từ trên miền Bắc mà xuống đến nước ta dưới này, nó to đến như vậy mà chỉ phụ thuộc vào chỉ có một người. Thế thì nhà nước chuyên chế không thể nắm được cái sở hữu của nó. Chủ nô nắm được nô lệ, lãnh chúa nắm được nông nô, chứ chuyên chế thì chịu, không thể nào nắm được cái sở hữu của nó. Đó là một điều rất quan trọng, rất khác. Cho nên trong lịch sử nhân loại, Trung Quốc là nước quan tâm đến chính trị sớm nhất. Lý thuyết từ đời Ân trở về sau đã là nghĩ đến chuyện làm sao nắm được nước. Đến thế kỷ III trước CN, đã có Hàn Phi. Ở phương Tây là phải đến thế kỷ XIII, XIV mới có Sứ quân (Le Prince) của Machiavel (1469 – 1527). Cho nên phải biết là Trung Quốc là nước phát triển chính trị cực sớm, bởi vì nó nắm trước cái tình hình như vậy. Từ đời Ân đến đời Chu, người ta quản lý đất nước dựa vào họ hàng, tức là cho bà con làm chủ các vùng đất mới và nắm qua hai quan hệ: Quan hệ thứ nhất là quan hệ vua tôi. Quan hệ thứ hai là quan hệ họ hàng. Lập ra các nước để làm “phên giậu” (chữ của họ) cho nhà nước trung ương. Cách làm như vậy đặt ra hai điều: Một là trung với vua. Hai là hiếu với tổ tiên. Trung và hiếu là hai yêu cầu để giữ cái thể chế như vậy. Nhưng trên thực tế lại có chuyện như thế này:

Thứ nhất là khi đã ra làm chủ cái nước của mình thì cuối cùng các vua chư hầu nghĩ đến lợi ích bản thân chứ không nghĩ đến thiên tử nữa. Các nước đó đều có xu hướng độc lập, tách ra, họ nghĩ đến quyền lợi của họ chứ không nghĩ đến quyền lợi của thiên tử.

Một vấn đề khác cũng đặt ra từ thế kỷ VII, VII trước CN mà cho đến thế kỷ IV, V trước CN ở Trung Quốc là vấn đề hiền tài. Không phải con cái quý tộc đều giỏi cả. Cái đó Mặc Tử nói rất rõ. Mặc Tử nói là vua chúa trọng con ngựa hơn trọng nước vì ngựa ốm là biết mời thầy thuốc về chữa ngựa, chứ nước hỏng thì cứ giao cho con cháu. Như thế tức là các ông vua chúa trọng con người hơn trọng nước. Cho nên cả học thuyết của Khổng Tử, học thuyết của Mạnh Tử, cũng như học thuyết của các nhà khác như Pháp gia đều đặt ra vấn đề hiền tài, phải chọn cho được người hiền tài. Đây là một vấn đề đặt ra suốt nhiều thế kỷ, từ thế kỷ VIII trước CN trở về sau đều đặt ra vấn đề hiền tài. Chọn hiền tài bằng cách nào? Nếu không dựa vào việc chọn lựa chon cháu mà chọn hiền tài thì bằng cách nào? Đầu tiên người tat hi hành chính sách là cử hiền tức là giao cho mỗi người, mỗi ông quan hay là mỗi ông vua chư hầu đều tiến cử người hiền tài mà mình biết cho vua. Ai tiến cử được người giỏi thì được thưởng, ai tiến cử người bậy thì phải chịu trách nhiệm, đó cính là tiền hiền. Nhưng mà cho đến thế kỷ V trước CN người ta mới phát hiện là té ra nó cũng tiến cử con cháu nó cả thôi! Chỉ có điều là tôi tiến cử con cháu anh và anh tiếc cử con cháu tôi; cũng là dân quý tộc ấy cả, không ai lọt vào được. Nên tiến hiền cuối cùng cũng không giải quyết được vấn đề.

Đến thế kỷ IV trước Công nguyên, chủ trương đề bạt tướng lĩnh là phải từ quân ngũ, đề bạt quan là phải từ từ lại, tức là người làm việc, lấy tiêu chuẩn có thực tế, có làm thì mới được đề bạt. Nhưng làm như thế lại chậm, từ lính mà leo lên tướng thì lâu lắm, cũng như là từ lại mà leo đến quan thì lâu lắm, nên cái đó vẫn chưa phải là cách hay. Và cuối cùng đến Hán Vũ Đế mới tìm ra cách là thi. Chọn một tầng lớp quan lieu đảm bảo trung thành, đảm bảo làm được những điều vua muống bằng cách thi. Như vậy khoa cử bắt đầu từ Hán Vũ Đế tức thế kỷ II, I trước Công nguyên. Vì thi cho nên họ đặt những gì là yêu cầu của vua thì cho lại, và thi là thi những cái đó. Người ta cho rằng làm như vậy sẽ đảm bảo chọn được đúng những người cần thiết, đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là sẽ không cha truyền con nối nữa. Anh thi được nhưng đến thời con anh thi không được nữa thì thôi. Vì vậy đảm bảo chọn được đám quan lieu đúng với yêu cầu và đồng thời không thể trở thành lực lượng đối đầu đối với chế độ chuyên chế. Khoa cử là một biện pháp được dùng từ đời Hán – thế kỷ II trước CN, cho đến cuối thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khoa thi cuối cùng là năm 1919. Ở Trung Quốc, cũng đến đầu thế kỷ XX mới bỏ khoa cử.

Đến vấn đề lấy cái gì làm chuẩn để thi, thi bằng cái gì? Trước hết phải hiểu quan cai trị theo chế độ chuyên chế là gì? Ta đừng nghĩ quan cai trị theo kiểu chuyên chế tức là làm các công việc hành chính, hay là làm các công việc ích quốc lợi dân. Không phải như thế, đó là điều hoàn toàn không phải. Người ta tìm cha mẹ cho dân chứ không phải là tìm người cai trị. Vì sao? Nhà nước chuyên chế là một nhà nước yêu cầu giữ yên chứ không yêu cầu thay đổi. Ông vua chuyên chế đồng tiên là ông vua sáng nghiệp, là ông vua đặt ra chế độ này, chế độ kia, sắp xếp đất nước thế này thế kia, rồi sau ông vua sáng nghiệp là ông vua thủ thành. Ông vua thủ thành tức là giữ nguyên những cái mà cha ông đã đặt ra. Họ quan tâm đến vẫn đề giữ nguyên, ổn định. Như Nguyễn Du viết: “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” tức là yên, không có chuyện gì hết, không thay đổi gì cả. Đó chính là yêu cầu của chế độ chuyên chế. Và muốn làm được như vậy thì không cần đến người tài năng để sửa đổi cái này cái kia mà cần người nào giữ yên được cho nhà vua. Mới có chuyện quan là cha mẹ dân, tức là nói thế nào đó để dân phải đi phu, nộp thuế đầy đủ, thế là ổn rồi, đảm bảo được ba cái đó là thái bình rồi, giữ yên được rồi. Và vì vậy nhà nước đó có tình tuyên huấn, nhà nước đó là nhà nước tuyên truyền, nhà nước đó là nhà nước giáo hóa, vận động chứ không phải là nhà nước làm việc. HÌnh như là cách đây ít lâu, khoảng mấy chục năm, có người nói một cách hơi mỉa mai là ở Việt Nam làm gì có Bộ Nông nghiệp, chỉ có Bộ Khuyến Nông thôi. Đó chính là vấn đề, Nhà nước chỉ động viên tuyên truyền chứ không phải làm việc. Các ông quan làm việc không nhất thiết phải có tài năng mà cần thiết hơn là được dân nghe, nói cho dân nghe. Muốn được như vậy thì phải đào tạo theo cách như vậy. cho nên đào tạo theo hai yêu cầu là minh kinh và năng văn.

Minh kinh là nắm vững kinh điển Nho giáo, hiểu rõ kinh điển Nho giáo, biết kinh nghiệm cai trị theo đúng Nho giáo. Tức là đường lối chính trị, đó là đường lối chính trị nên anh phải minh kinh.

Hai nữa là năng văn, anh phải biết làm văn chương để mà động viên được dân. Các bạn nên biết ngày xưa các chiếu chỉ của nhà vua đưa xuống cũng là văn chương, mà tờ bẩm của quan lại đưa lên cũng là văn chương, vua quan đều viết văn chươgn. Các bạn đọc thử mà xem, những bài chiếu như chiếu của Tự Đức, đọc rất xúc động, xúc động lắm. Không phải Tự Đức tồi thì ta coi không ra gì đâu. Chiếu của Tự Đức hay lắm, động viên với tất cả tinh thần thương dân, ta nói không bằng đâu. Đó là cái thứ văn chương cần được dùng để động viên nhân dân. Cho nên đi thi là minh kinh và năng văn. Các nhà nước chuyên chế đều coi việc bồi dưỡng tài năng, bồi dưỡng nhân tài, việc tổ chức học hành và chọn được nhân tài là việc lớn của đất nước. Vì vậy nhà vua rất coi trọng việc học. Các ông vua ngày xưa đều thường làm mấy việc. Một là nhà vua phải nghe kinh diên, tức là phải nghe giảng, nghe giảng kinh điển ở các trường quốc họ và vua đích thân chủ trì các cuộc thi, thì Đình là vua đích thân chủ trì. Như thế tức là tỏ thái độ đề cao việc họ, đề cao việc chọn nhân tài.

Đất nước dưới chế độ chuyên chế phương Đông gồm vua quan ở cung đình và lỵ trấn (tức là bộ máy nhà nước được đóng ở cung đình – trung ương, còn lỵ trấn là ở tỉnh huyện). Ở ngoài cung đình và lỵ trấn là nông thôn. Cung đình và lỵ trấn lọt thỏm giữa một biển nông thôn. Một nước mà hầu như tất cả là nông thôn, tức là gồm các làng, vô vàn các làng như vậy, trong đó chủ yếu là nông dân lao động. Người nông dân trong các làng sản xuất tự túc và cống nạp. Tự túc là bởi vì tự trong cái ruộng của anh phải đủ nuôi anh, nhưng đồng thời anh cũng phải làm nghĩa vụ đóng góp nữa. Nên sản xuất đó là sản xuất tự túc và cống nạp. Phần cống nạp thì đưa lên vua; vua phân phối lại cho các quan lại và  binh lính, và để cho vua tiêu dùng. Mong ước lớn nhất của nhà vua là thu đủ thuế, bắt đủ phu, bắt đủ lính và ông quan phải làm nhiệm vụ đó, phải động viên tuyên truyền như thế nào để dân vui lòng làm những việc đó. Trong cái thể chế như vậy, quan sống bằng bổng lộc mà sân sống bằng của cải tự túc của mình. Ở đây nên phân biết bổng và lộc. Lộc là cái vua cho, tức là như kiểu trả lương của ta hàng ngày, trả lương hoặc bằng tháng hoặc bằng năm, đó là lộc. Nhưng thường lộc của phong kiến là “bạc”, không nhiều, quan ngày xưa lương ít chứ không nhiều. Cho nên ngày xưa có ông tri phủ vẫn chưa có dép để đi, ở nhà vợ vẫn phải cày cấy lấy mà ăn chứ lương bổng không ăn thua gì. Có lẽ các quan ở triều đình thì khá hơn, cho nên Cao Bá Quát nói: “Đỉnh chung chiếc rưỡi cái lương vàng” tức là lương tháng được mười lăm đấu gạo. Ông quan huấn đạo dạy học ở một huyện nên được như vậy. Chắc cũng chỉ như giáo viên cấp 1 của ta ngày nay, chứ không hơn gì đâu. Thế thì quan không thể sống bằng lộc mà phải sống bằng bổng, người ta lấy bổng hậu bù cho lộc bạc. Bổng chủ yếu là phần biến xén của cấp dưới và của dân. Dân đã đến quan thì phải có các lễ vật, cái đó người ta không coi là hối lộ vì quan là cha mẹ dân, cho nên dân mà đến quan là đến với cha mẹ, có biếu xén cha me thì không có chuyện gì là tham nhũng cả! Vì vậy đã đến quan thì ít ra cũng có một cơi trầu, một be rượu, đó là những thứ tối thiểu, mà không có những cái đó là vô lễ. Nhưng mà bên cạnh cơi trầu, chai rượu thì cũng phải có cái gì nữa như mấy đấu gạo nếp, một con gà hay là gì khác nữa. Còn quá hơn nữa thì mới là hối lộ. Và hình như ngày xưa quan cũng sợ bị mang tiếng là hối lộ cho nên đưa cái gì thì cũng phải đưa có lễ ý, tức là đưa có danh nghĩa họ mới nhận, chứ đưa không có danh nghĩa là họ cũng sợ, không dám nhận. Cho nên quan sống bằng bổng và cái đó gọi là vi thiềng. Vi thiềng tức là “lòng thành nhỏ mọn”, tức là biểu thị sự cung kính, lòng thành nhỏ mọn đối với cha mẹ.

Ngày xưa nói quan văn sống sướng hơn dân cày. Bởi vì kẻ sĩ chỉ có hai con đường: Một là ở nhà cày ruộng, tự túc và cống nạp. Hai là làm quan. Vậy nên “Văn chương phú lục chẳng hay – Trở về làng cũ học cày cho xong”. Chỉ có một cách là đi học làm quan, hai nữa là đi cày. Giữa hai việc này thì làm quan dù sao cũng mát mặt hơn, sống sung sướng hơn, sống vinh dự hơn. Bởi thế ở trong nước tạo ra một tình hình là hiếu học, người nào cũng muốn cho con mình đi học, cho con được mát mặt hơn, đó là một. Hai là thanh niên nào cũng cố gắng học, chỉ bất đắc dĩ lắm không học được mới thôi, đây chính là sự hiếu học phương Đông, được đẻ ra trên cơ sở này, cái cơ sở dựa trên một thực tế có thật. Cái thực tế đó làm cho số người đi học ở trong nước rất đông nên khi người Pháp sang đây họ rất ngạc nhiên là tại sao dân Việt Nam đi học đông như thế. Xóm nào cũng có người đi học, ở nơi vắng vẻ nhất cũng có người đi học. Nó rất khác với phương Tây, ở phương Tây người ta học phần nhiếu ở một số ít đô thì và ở trong nhà thờ, một ít chứ không phải đông. Đa số người dân ở nông thôn là không biết chữ. Đó là một điều người ta rất kinh ngạc. Vậy nó mới đẻ ra một đẳng cấp sĩ phu. Sĩ cũng là dân nhưng là dân đặc biệt. Họ đặc biệt ở mấy chỗ: Thứ nhất, người nông dân ít khi ra khỏi làng, người nông dân lên đến huyện là xa lắm rồi, là người được mở mang trí tuệ ghê gớm lắm rồi. Sĩ thì đi nhiều, đi học chỗ này chỗ kia, bạn bè nhiều, do đó quan hệ của sĩ rộng hơn chứ không phải chỉ sống trong làng. Thứ hai, sĩ có tổ chứ xã hội. Nông dân thì không có tổ chức xã hội, nông dân chỉ sống với làng thôi, họp làng thôi. Còn sĩ thì có văn hội, sĩ hội tức là các tổ chức đoàn thể, phường hội của họ. Và tổ chức văn hội, sĩ hội có quan hệ rộng hơn làng. Thứ ba là vận mệnh của họ khác.

Tôi nói vắn tắt về chuyện thi cử. Ngày xưa có ba cấp thi: Một là thi Hương. Hai là thi Hội. Ba là thi Đình.

Thi Hương nói là hương chứ thực ra là thi liên tỉnh. Ở Việt Nam trước đây có bảy trường thi Hương. Ở Hà Nội, ở Nam Định cho tất cả Bắc Bộ là hai trường; Thanh Hóa có một trường, vì Thanh Hóa là quê hương của vua nên được tổ chức thi Hương riêng; Nghệ An có một trường; Thừa Thiên một trường; Bình Định một trường và sau này Gia Định một trường nữa. Như thế là liên tỉnh chứ không phải hương chỉ gồm một tỉnh. Thi Hương có hai loại đỗ: tú tài và cử nhân. Tú tài là những người đỗ vớt, cử nhân mới là đỗ chính thức (thường thì cứ một cử nhân thì có ba tú tài). Tất cả những người đỗ cử nhân mới có quyền đi thi Hội, tức là phải vào học ở Quốc Tử Giám để được thi Hội. Thi Hội không có danh vị gì. Thi Hội là thi với tư cách như là kiểm tra chứ không có học vì. Tất cả những người đậu thi Hội mới được vào thi Đình. Thi Đình mới chia ra các loại tiến sĩ. Có ba cấp tiến sĩ: Cấp thứ nhất là đệ nhất giáp tiến sĩ gồm có ba danh vị: một là trạng nguyên, hai là bảng nhãn và ba là thám hoa. Danh vị thứ hai là đệ nhị giáp tiến sĩ tức là hoàng giáp, chỉ có một tên là hoàng giáp, và đệ tam giáp tiến sĩ tức là tiến sĩ. Tôi lưu ý, một là nhà Nguyễn không có trạng nguyên. Nhà Nguyễn có một lệ là không đặt hoàng hậu, không đặt tể tướng và không lấy trạng nguyên. Đó là những vinh dự gần ngang vua, mà quá to. Không đặt hoàng hậu, chỉ đặt là phi; không lấy trạng nguyên, chỉ lấy bảng nhãn. Không đặt tể tướng. Vì nhà nguyễn không muốn có người nào xấp xỉ quyền vua nên bỏ ba chức đó. Nói đến trạng nguyên, các anh nhớ đấy là của triều Lê hay Trần chứ không có ở triều Nguyễn. Hai là ở triều Nguyễn có đặt một danh vị nữa là phó bảng. Phó bảng là người đỗ vớt ở thi Đình. Phó bảng lại chỉ có ở triều Nguyễn còn các triều khác không có. Chẳng hạn cụ Phan Châu Trinh là phó bảng hoặc cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng là phó bảng.

Thi cử được tổ chức như vậy dẫn đến tình trạng có người đi thi mà đỗ đạt, có người đi thi lại không đỗ gì cả. Người thi đỗ được làm quan, nhưng tùy thuộc vào việc đỗ đến mức nào. Đỗ càng cao chức quan càng lớn. Nếu người nào đó, vì lý do riêng mà không muốn làm quan thì trở thành thân sĩ, về quê được cấp ruộng không phải đóng thuế, có chỗ sang trọng trong “chiếu giữa làng”, thỉnh thoảng còn được biếu xén, nhìn chung là được trọng vọng, kể cả quan hưu. Người không đỗ thường làm thầy thuốc, thầy đồ, thầy địa lý, thầy tướng số (nho, y, lý, số) nhưng dường như không có ai làm thầy phù thủy. Họ làm những công việc này vì họ là người hiểu được Kinh Dịch, họ tồn tại tương tự các giáo sĩ ở phương Tây, và qua thực tế tồn tại của mình, họ góp phần làm cho Nho giáo có màu sắc tôn giáo. Nguyễn người không đỗ đạt tạo ra trong xã hội một lớp người là dân nhưng không là dân, nhiều người trong số họ tự cho mình là thầy của dân, là lớp người trung gian giữa dân và vua. Tuy nhiên kẻ sĩ – trí thức ở Việt Nam không giống như trí thức phương Tây trung cổ, trí thứ là giáo sĩ của nhà thờ; khi đô thị ra đời thì có thêm tầng lớp trí thức tự do như thầy thuốc, thầy kiện, nghệ sĩ, nhà báo. Còn ở phương Đông, kẻ sĩ không có quan hệ với nhà thờ nên họ hoàn toàn tự do. Nhà nho ở làng xã trở thành một tầng lớp trí thức nông thôn. Theo tôi, lớp trí thức này không gắn bó nhiều với đô thị. Mặt khác do yêu cầu minh kinh và năng văn mà những nhà nho này không gắn bó với khoa học tự nhiên, đẩy tới thói quen kinh viện, một kiểu nô lệ của sách vở, từ chương. Cần lưu ý, gần 3000 tiến sĩ trong lịch sử thi cử ở Việt Nam trước đây chủ yếu là người làm thơ, viết văn. Ngoài một số bậc túc nho nổi tiếng, còn lại cũng không có gì ghê gớm lắm.

(Còn nữa)

GS Trần Đình Hượu

(phebinhvanhoc.com.vn)

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Ý NGHĨA LỄ GIÁNG SINH VÀ LỄ HIỂN LINH

Ba Vua dâng tiến Chúa Hài Đồng: vàng, nhũ hương và mộc dược.
Lễ Giáng sinh
Ba nhà chiêm tinh đi thăm Chúa Giê-su ban đêm 12 ngày sau Chúa Giê-su được sinh vào Giáng sinh Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Kitô hữu. Họ tin là Giêsu được sinh tại Bethlehem (Bêlem) thuộc tỉnh Judea (Giuđêa) của nước Do Thái (Israel ngày nay), lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.
Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12 bởi theo lịch Do Thái, một ngày bắt đầu từ lúc hoàng hôn. Theo Công giáo Rôma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng". Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.
Mục lục  
1 Tên gọi
2 Lịch sử
3 Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa
3.1 Vòng lá mùa vọng
3.2 Máng cỏ
3.3 Cây Giáng sinh
3.4 Thiệp Giáng sinh
3.5 Quà Giáng sinh
3.6 Chợ Giáng sinh
4 Giáng Sinh ở các nước
4.1 Hà Lan
4.2 Nga
4.3 Nhật Bản
4.4 Việt Nam
5 Xem thêm
6 Chú thích
1 Tên gọi
Noel, từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta"
Chữ Christmas, tiếng Anh gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (phiên âm Việt là "Kitô" - nghĩa là Đấng được xức dầu) chính là tước vị của Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là "Ngày lễ của Chúa Kitô", tức là ngày lễ Giáng sinh của Chúa Giêsu.
Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy Lạp viết chữ Christ là Christos (Χριστὀς). Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho chữ Chi (tiếng Anh đọc là Kai /ˈkaɪ/, nguyên gốc tiếng Hy Lạp đọc là Khi /χi/) trong chữ Χριστὀς, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Kitô.[1]
2 Lịch sử
Tranh của Gerard van Honthorst, 1622, cảnh các mục đồng tìm đến
Thời kỳ Kitô giáo sơ khai (khoảng 2 đến 3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với Lễ Hiển Linh. Ngay từ năm 200, thánh Clementê thành Alexandria (150-215) đã đề cập đến lễ hết sức đặc biệt này được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Nhưng Giáo hội Latinh thì mừng lễ này vào ngày 25 tháng 12[2].
Theo một nguồn khác thì các Kitô hữu sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Chúa Giêsu trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ thứ 4, người Kitô hữu mới bắt đầu muốn ăn mừng 
lễ giáng sinh của Chúa Giêsu mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền Đế quốc La Mã phát hiện và bắt bớ, bởi vì thời điểm đó Kitô giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.
Những người La Mã hàng năm ăn mừng "Thần Mặt trời" (Feast of The SolInvictus) đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Các Kitô hữu đã nhân cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Chúa Giêsu giáng sinh, đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại (Gioan 8:12) trùng một ngày với ngày lễ "Thần Mặt trời" của người La Mã. Vì vậy, chính quyền La Mã đã không phát hiện rằng thực sự là các Kitô hữu tổ chức ăn mừng lễ giáng sinh của Chúa Giêsu.[1]. Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine I đã bỏ đa thần giáo và theo Kitô giáo. Ông đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng "Thần Mặt trời" và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật Chúa Giêsu. Đến năm 354, Giáo hoàng Libêrô công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Chúa Giêsu.
Trong nhiều thế kỷ, những sử gia Kitô giáo chấp nhận ngày lễ giáng sinh là ngày Chúa Giêsu được sinh ra. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với ngày đông chí ở bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12. Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ của họ vào cuối tháng 12.
3 Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa
3.1 Vòng lá mùa vọng
Vòng lá mùa vọng 
Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy, trong 4 tuần Mùa Vọng. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Phái Lutheran ở Đức vào năm 1839 với 24 cây nến gồm 20 nến đỏ và 4 nến trắng, cứ mỗi ngày gần Giáng sinh được đốt thêm một cây nến.
Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday). Hoặc 4 cây nến đỏ, cứ mỗi tuần mùa Vọng đốt 1 cây nến.
Hang đá và máng cỏ
3.2 Máng cỏ
Thường là vào mùa Giáng sinh, một máng cỏ được đặt trong hang đá (hay gỗ) được dựng lên trong nhà hay ngoài trời, với các hình tượng Chúa Giê-su, Mẹ Maria, Giuse (Joseph) vá các thiên thần, để kể lại sự tích Chúa ra đời trong máng cỏ.
3.3 Cây Giáng sinh  
Cây Giáng Sinh là cây xanh (thường là cây thông) được trang hoàng để trình bày trong dịp lễ Giáng Sinh theo phong tục của người Ki tô giáo.
3.4 Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole (1808 - 1882), một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ John Callcott Horsley (1817 - 1903), một họa sĩ ở Luân Đôn, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
3.5 Quà Giáng sinh
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên chúa đã ban tặng cho con người.
Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua (hay nhà thông thái, đạo sĩ) phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và mộc dược. Vàng tượng trưng Chúa Giêsu là vua (tức con Chúa Cha - Vua Nước Trời), trầm hương tượng trưng Giêsu là Thiên Chúa và mộc dược biểu hiện hình ảnh Giêsu bị đóng đinh trên cây thánh giá hay nói rõ hơn là sự chịu chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giêsu hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Ông già Noel thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc tất.
Ngoài ra, ngày nay ở Việt Nam thì Giáng sinh cũng là dịp để các bạn trẻ có cơ hội gửi cho nhau những món quà, những bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân và bạn bè.
3.6 Chợ Giáng sinh
Chợ Giáng sinh (tiếng Đức: Weihnachtsmarkt; tiếng Pháp: Marché de Noël) là một chợ đường phố kiểu truyền thống được tổ chức vào dịp Giáng sinh (thường bắt đầu khoảng 1 tháng trước Lễ Giáng sinh) có nguồn gốc tại vùng đất ngày nay là nước Đức và Đông Bắc nước Pháp. Bắt đầu xuất hiện từ cuối thời Thời kỳ Trung Cổ (khoảng thế kỷ 14), cho đến nay chợ Giáng sinh vẫn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Đức, Áo và Đông Bắc Pháp trong dịp Giáng sinh cũng như được phổ biến đến nhiều quốc gia khác trên thế giới.
4 Giáng Sinh ở các nước
Cây Giáng sinh ở một nhà tại Đan Mạch
4.1 Hà Lan
Cũng như các quốc gia Tây Âu khác, lễ hội bắt đầu ở Hà Lan vào ngày 25 tháng 12 - đêm thánh Nicolas. Món quà của thánh Nicolas tặng cho ba chị em nghèo khổ qua chiếc ống khói và phong tục treo tất ở ống khói có thể được bắt nguồn từ câu chuyện này. Mỗi năm thánh bổn mạng ở Amsterdam đi thuyền tới thành phố với người cộng sự của mình là Black Peter ăn mặc như một người Moor. Họ được đón chào nồng nhiệt. Mọi người trao đổi quà với nhau và họ náo nức chuẩn bị cho mùa Giáng sinh.
4.2 Nga
Đối với những người theo Chính thống giáo Nga, nhiều nước Đông Âu và ở đất thánh Jerusalem, Giáng sinh rơi vào ngày 7/1 bởi họ dùng lịch cũ chứ không dùng lịch mới Gregorian có từ thế kỷ 16. Ông già Tuyết trong giáng sinh theo Chính thống giáo Nga có vẻ ngoài tương tự như "đồng nghiệp" ở phương Tây, nhưng lại mặc áo màu xanh và dắt theo một công chúa tuyết. Công chúa là người trao quà cho trẻ em. Với nhiều người Nga, lý do chính để ăn mừng Giáng sinh không phải bản thân ngày lễ này, mà đây là dịp để nghỉ ngơi. Người lao động có tới 10 ngày nghỉ, và với rất nhiều trong số họ thì đây là 10 ngày uống say sưa. [3]
4.3 Nhật Bản
Nhật Bản không có lễ Giáng Sinh chính thức. Giáng Sinh ở Nhật không mang màu sắc tôn giáo. Từ đầu tháng 12 phố xá đã bắt đầu treo đèn trang trí. Các trung tâm lớn ở Tokyo như ga Tokyo, Ikebukuro, Shinjuku, Shibuya, Roppongi, Ginza v.v. đều treo đèn gọi là illumination rất đẹp. Đặc biệt nổi tiếng có lẽ là hành lang đèn có tên “Tokyo Millenario" do đạo diễn mỹ thuật người Ý tên là Valerio Festi thiết kế chạy dài 800 m tại Marunouchi gần ga Tokyo.
Gần đến ngày Giáng Sinh tại các quảng trường đều có đặt cây thông. Các siêu thị bán nhiều đồ của lễ Giáng Sinh như giầy ủng đỏ đựng đầy bánh kẹo bên trong, các vòng lá thông gắn băng lụa đỏ và chuông mạ vàng, có cả bánh ngọt mùa Giáng Sinh của châu Âu như panettone có xuất xứ từ Italia. Một số nhân viên bán hàng hóa trang thành ông già Noel khi phục vụ khách hàng. Các cửa hàng bách hóa lớn (department stores) mở cửa đến 11 giờ đêm, làm việc cả 31 tháng 12 và 1 tháng 1. Trai gái thường lấy mùa Giáng Sinh để tỏ tình, tặng quà nhau mang ý nghĩa đặc biệt. Vào đêm Giáng Sinh các gia đình Nhật thường ăn bánh ngọt mùa Giáng Sinh do họ tự làm hoặc mua ở hiệu.[4]
4.4 Việt Nam
Ngày nay, ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Trong những ngày này, cây thông Nô-en được trang trí ở nhiều nơi bằng cây thật (thường là thông ba lá hoặc thông mã vĩ) hay thông nhân tạo làm bằng nhựa, không phải cây thông như ở các nước phương tây thường là họ Bách tán. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhiều loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây...
Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke. Người Việt Nam rất thích thú các ca khúc Giáng sinh.[5]
(Source: wikipedia.org)

Chú thích

  1. ^ a b Giải đáp 306 câu hỏi của tín hữu cơ đốc, Diệp Dung, Nxb Tôn giáo,2009
  2. ^ Từ điển Công Giáo phổ thông, John A.Hardon, S.J. Image books, New York, chủ biên Lm Đặng Xuân Thành, Dịch: Nhóm Chánh Hưng, Nxb Phương Đông, 2008
  3. ^ Người Nga đón Giáng sinh, theo AP, RFE
  4. ^ Ngày lễ Giáng sinh ở Nhật Bản
  5. ^ Việt Nam giáng sinh và ông già Tuyết ngày càng phổ biến

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | JCPenney Coupons