NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG : CÙNG MẸ MARIA BƯỚC ĐI TRONG ĐỨC TIN
Hiển thị các bài đăng có nhãn MẸ MARIA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MẸ MARIA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2016

MỘT EM BÉ BỊ ĐIẾC ĐÃ NGHE ĐƯỢC KHI ĐI HÀNH HƯƠNG LỘ ĐỨC

Cơ quan Unitalsi (Hiệp hội Quốc gia Ý chuyên chở người bệnh đi Lộ Đức và các nơi thánh quốc tế) cho biết, kể từ ngày 11 tháng 5 vừa qua, một bé gái 6 tuổi người Ý đã nghe mà không cần máy trợ thính, một sự kiện không thể nào giải thích được.

Cơ quan Unitalsi (Hiệp hội Quốc gia Ý chuyên chở người bệnh đi Lộ Đức và các nơi thánh quốc tế) cho biết, kể từ ngày 11 tháng 5 vừa qua, một bé gái 6 tuổi người Ý đã nghe mà không cần máy trợ thính, một sự kiện không thể nào giải thích được.
 
Em người gốc Liguria, Bắc-Tây nước Ý, em đi Lộ Đức cùng với mẹ, bà và em trai mình. Một quyết định “vào phút chót”.

Em bị điếc sâu cả hai tai, em phải mang máy trợ thính. Nhưng thứ tư vừa qua, em gỡ bỏ máy, ông Giuseppe Secondi, Chủ tịch phân bộ Cơ quan Unitalsi ở Milan Nam-Tây và là giám đốc chuyến hành hương cho biết.

“Lúc đó là 20h30 tôi đang ngồi chơi với em, ông kể, tôi nói với em, tôi không ở lại chơi được vì tôi có một cuộc hẹn. Em đi về phía mẹ em và tôi thấy em gỡ máy trợ thính, không có máy, em không nghe được. Khi mẹ em nói em mang máy vào, em trả lời: ‘Con nghe rõ, con không cần máy nữa’”.

Ngay lập tức bà đưa em đến văn phòng Chứng nhận Y khoa của Lộ Đức. Các bác sĩ xin xem tất cả hồ sơ y khoa trước đây của em và họ đề nghị làm các thử nghiệm mới về tai.

Em bé sinh thiếu tháng, chỉ 26 tuần và chỉ nặng 800 gờram. Em ở ba tháng ở Viện Nhi khoa Gaslini, thành phố Gênes. Các bác sĩ đã cứu được em nhưng một vài món thuốc đã làm em bị xuất huyết não nên khả năng nghe của em bị hư hại. Các thử nghiệm sau này chứng nhận em bị điếc sâu cả hai tai.

Marta An Nguyễn chuyển dịch, phanxico
 zenit.org, Marina Droujinina

THÁNG 5 HOA LÒNG DÂNG MẸ

Me-hoa.jpg

Trong muôn vàn vẻ đẹp trang hoàng và tiềm ẩn của vũ trụ này, thì hoa là một trong những vẻ đẹp kỳ diệu và hấp dẫn mà Thiên Chúa đã dựng nên. Sự phong phú và đa sắc của hoa đã tô điểm cho trái đất này thêm lộng lẫy và nên thơ.
  
Hoa đã trở thành một người bạn thật thân thiết với con người. Khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng lẫn nhau. Khi buồn người ta cũng trao gởi lẵng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương. Hoa là là nhịp cầu để con người trao gửi tình yêu và tình người cho nhau.

Mỗi dịp tháng Năm về, hay ta vẫn thường gọi là tháng Hoa, Giáo Hội mời gọi chúng ta hướng lòng về Mẹ Maria. Mẹ là đóa hoa vẹn toàn giữa muôn ngàn đóa hoa của trần gian. Mẹ là bông hoa huệ khiết tinh. Mẹ là đóa hoa hồng trìu mến. Mẹ là đóa hoa xanh hy vọng. Mẹ là đóa hoa tím thủy chung…

Hương thanh khiết và tấm lòng mến yêu của Mẹ đã đem đến một mùa xuân tươi mát cho nhân gian được hồi sinh. Ơn cứu độ của Thiên Chúa đã đổ tràn trên nhân loại nhờ hoa lòng tin tưởng và phó thác của Mẹ. Tình yêu Thiên Chúa đã ẳm lấy con người ngang qua hoa “xin vâng” khi Mẹ trao ban cả cuộc đời mình trong tay Chúa.

Đức Maria, Mẹ đầy ơn Phúc!

Mẹ đẹp như ngàn hoa luôn tô thắm cho vẻ đẹp của vũ trụ. Hương thơm nhân đức của Mẹ tựa hương thơm của ngàn hoa lan tỏa vào nhân gian. Mẹ đã làm trọn bổn phận của một người Mẹ trong gia đình Nagiaret xưa và người Mẹ trong đại gia đình nhân loại hôm nay.

Mẹ đã tận hiến hy sinh cho gia đình. Mẹ sống hết mình cho hài nhi Giêsu. Cuộc đời Mẹ quyện vào đời Con làm nên hy tế cứu độ trên đồi Canvê. Mẹ đã đi qua những thăm trầm của gia đình trong niềm tín thác cậy trông vào Thiên Chúa. Nhờ ân sủng của hoa nhân đức đó, Mẹ đã trở nên người Mẹ của mỗi người chúng ta.

Tháng Hoa về nhắc nhở chúng ta học hỏi nơi Mẹ những hoa nhân đức tốt lành. Mỗi cuộc đời chúng ta là một loài hoa. Mỗi chúng ta là một sắc hoa tô điểm cho đời: hoa tình yêu, hoa hy sinh, hoa bác ái, hoa thuỷ chung, hoa dâng hiến... Loài hoa nào cũng đẹp. Hương hoa nào cũng thơm.

Phó thác và trao ban cho Mẹ những sắc hoa của cuộc đời chúng ta, để cuộc đời chúng ta trở nên những bông hoa dâng tặng cho đời. Và hơn nữa, hương thơm của nó sẽ lan tỏa và làm mới địa cầu.

Xin dâng lên Mẹ hoa màu Đỏ của tình yêu và hy sinh. Xin cho con biết mở rộng vòng tay và trái tim để phục vụ cho lợi ích chung giữa những rạn nứt, đổ vỡ chỉ vì sự thờ ơ và ích kỷ.

Xin dâng lên mẹ hoa màu Tím của sự thủy chung và trung thành. Xin cho con biết giữ trọn lời thề hứa yêu nhau để bảo vệ đời sống hôn nhân gia đình giữa những khó khăn thử thách đang đe dọa.
Xin dâng lên Mẹ hoa màu Vàng của niềm tin kiên vững. Xin cho con biết sống phó thác tin tưởng vào tình thương và sự quan phòng của Chúa như Mẹ giữa những sóng gió của trần gian.

Xin dâng lên Mẹ hoa màu Xanh của hy vọng. Xin cho con biết giữ ngọn lửa hy vọng để đốt cháy những thất vọng của phận người và lan tỏa ánh sáng hy vọng để chiếu sáng trần gian tối tăm.

Xin dâng lên Mẹ hoa màu Trắng của trinh khiết. Xin cho con biết giữ hồn xác thanh khiết trước những cám dỗ và ham muốn của xác thịt. Luôn giữa mình trong sạch để xứng đáng là đền thờ Chúa ngự.

Xin dâng lên Mẹ tất cả những cánh hoa muôn sắc màu của bao phận người khác: kẻ vui cũng như người buồn; kẻ có nhà cũng như người bơ vơ; kẻ đang yêu cũng như người thất tình; kẻ có gia đình hay những phận đời cô đơn… Xin Mẹ đón nhận và gìn giữ họ.

Với tất cả tấm lòng thành, trong tháng Hoa này, hãy chạy đến bên Mẹ ngang qua lời kinh, qua tràng chuỗi Mân côi, hay qua những đóa hóa lòng đơn sơ, chân thành nhưng đượm tình mến thương mà chúng ta trao ban cho trần gian và cho tha nhân cuộc đời của mình.

Tháng Hoa, 2016.
J.B Lê Đình Nam

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

CÁC YẾU TỐ KHÁC NHAU TRONG KINH MÂN CÔI


rosary.jpg
Trong chương III Tông thư Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria sau khi trình bầy suy tư về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu Thế, Đức Gioan Phaolô II duyệt xét qua các yếu tố làm thành Kinh Mân Côi. Trước hết là việc loan báo mầu nhiệm, đọc một văn bản kinh thánh, dẫn giải suy niệm ngắn gọn, thinh lặng trầm lắng, rồi bắt đầu đọc Kinh Lậy Cha.
  
Sau Kinh Lậy Cha là Mười Kinh Kính Mừng. Tông thư viết: Đây là yếu tố có nhiều hình thể nhất của Kinh Mân Côi đồng thời cũng là yếu tố khiến cho nó là lời kinh thánh mẫu tuyệt vời. Nhưng dưới ánh sáng của Kinh Kính Mừng Maria được hiểu biết tường tận, người ta nhận thấy rõ ràng rằng tính cách thánh mẫu không chỉ không đối nghịch với sắc thái kitô học, trái lại nó còn nhấn mạnh và đề cao sắc thái kitô học nữa. Thật thế, phần đầu của Kinh Kính Mừng Maria, lấy từ các lời sứ thần Garbriel và bà Elidabét nói với Đức Maria, là việc chiêm ngắm thờ lậy mầu nhiệm được thành toàn nơi Đức Trinh Nữ thành Nagiarét. Chúng diễn tả sự khâm phục của trời và dất và trong một nghĩa nào đó, chúng làm toát ra sự mê say của chính Thiên Chúa trong việc chiêm ngưỡng kỳ công của Người - sự nhập thể của Chúa Con trong cung lòng đồng trinh của Mẹ Maria - trong đường hướng cái nhìn tươi vui của sách Sáng Thế (x. St 1,31), của sự ”cảm nhận khởi đầu qua đó Thiên Chúa nhìn công trình của bàn tay Người vào bình minh của việc tạo dựng” (Thư gửi các nghệ sĩ (4-4-1999), 1: AAS 91 (1999), 1155). Trong Kinh Mân Côi việc lập lại Kinh Kính Mừng Maria đặt để chúng ta trước làn sóng sự mê say của Thiên Chúa: nó là nỗi vui sướng, sự kinh ngạc, việc thừa nhận phép lạ lớn lao nhất của lịch sử. Nó là việc thành toàn lời tiên tri của Mẹ Maria: ”Từ nay trở đi mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước” (Lc 1,48).

Lằn ngăn chính giữa của Kinh Kính Mừng Maria, như bản lề giữa phần một và phần hai, là tên Chúa Giêsu. Đôi khi, trong việc đọc vội vã, lằn ngăn đó biến mất, và cùng với nó là sự móc nối vào mầu nhiệm của Chúa Kitô mà ta đang chiêm ngắm. Nhưng chính trên dấu nhấn trao ban cho tên Giêsu và mầu nhiệm của Người mà người ta phân biệt một việc đọc Kinh Mân Côi có ý nghĩa và sinh hoa trái. Đức Phaolô VI đã nhắc nhở trong Tông huấn Marialis cultus, thói quen thực thi tại vài miền nêu bật tên Chúa Giêsu bằng cách thêm vào đó một lời gợi nhớ mầu nhiệm đang chiêm ngắm. Đây là một thói quen đáng ca ngợi, đặc biệt trong việc lần hạt công cộng. Nó diễn tả mạnh mẽ đức tin kitô học, được áp dụng vào các thời điểm khác nhau trong cuộc đời Đấng Cứu Độ. Nó là lời tuyên xưng đức tin, đồng thời trợ giúp việc suy ngắm bằng cách cho phép sống nhiệm vụ đồng hóa, nằm trong việc lập đi lại lại Kinh Kính Mừng Maria, đối với mầu nhiệm của Chúa Kitô.

Lập lại tên Giêsu - tên gọi duy nhất nơi đó được trao ban hy vọng cứu độ (x. Cv 4,12) - giao thoa với tên của Mẹ Rất Thánh, và hầu như để cho chính Mẹ gợi ý cho chúng ta, làm thành một con đường đồng hóa, nhằm làm cho chúng ta ngày càng bước sâu hơn vào trong cuộc đời Chúa Kitô.

Thế rồi từ tương quan rất đặc biệt với Chúa Kitô khiến cho Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Đấng sinh ra Thiên Chúa, phát xuất ra sức mạnh của lời khẩn nài mà chúng ta hướng lên Mẹ trong phần hai của lời kinh, bằng cách phó thác cho sự bầu cử hiền mẫu của Mẹ cuộc sống và giờ chết của chúng ta (s. 33).

Yếu tố thứ năm là Kinh Sáng Danh. Tông thư viết: Công thức vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi là đích đến của việc chiêm ngắm kitô. Thật thế, Chúa Kitô là đường dẫn đưa chúng ta tới Thiên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta đi cho tới tận cùng con đường ấy, chúng ta liên tục thấy mình ở trước mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa phải chúc tụng, tôn thờ, và cảm tạ. Thật là quan trọng, khi Kinh Vinh Danh tột đỉnh của sự chiêm niệm, được nêu bật trong Kinh Mân Côi. Khi đọc kinh công cộng, nó cũng có thể được hát để nhấn mạnh trên viễn tượng cấu trúc và định tính này của mỗi lời kinh kitô.

Trong mức độ, trong đó việc suy niệm mầu nhiệm được chú ý, sâu xa và sống động - từ kinh Kính Mừng này sang kinh Kính Mừng khác - bởi tình yêu đối với Chúa Kitô và Đức Maria, việc vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi ở mỗi chục kinh, không được giản lược thành một kết thúc mau lẹ, nhưng chiếm hữu được cung điệu chiêm niệm đúng đắn của nó, như để nâng tâm hồn lên độ cao của Thiên Đàng, và làm cho chúng ta sống trở lại, trong một kiểu nào đó, kinh nghiệm trên núi Tabor, diễn tả trước việc chiêm ngưỡng tương lai: ”Chúng con ở đây thật đẹp đẽ biết bao!” (Lc 9,33) (s.34).

Yếu tố thứ sáu là lời cầu kết thúc. Trong thói quen bình thường của Kinh Mân Côi sau việc vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi là một lời khẩn nài thay đổi tùy theo thói quen. Không lấy mất đi giá trị của các lời khẩn nài ấy, xem ra là điều thích hợp nêu lên rằng việc chiêm ngắm các mầu nhiệm đó có thể diễn tả một cách tốt đẹp hơn tất cả sự phong phú của nó, nếu người ta chú ý tới việc làm cho mỗi mầu nhiệm được kết thúc với một lời cầu nhằm có được các hoa trái chuyên biệt của mầu nhiệm ấy. Trong cách thế này Kinh Mân Côi sẽ có thể diễn tả tương quan với cuộc sống kitô một cách hữu hiệu hơn. Điều này được gợi ý bởi một lời cầu phụng vụ đẹp, mời gọi chúng ta xin cho chúng ta, qua việc suy niệm các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi, có thể đạt tới chỗ ”bắt chước điều các mầu nhiệm chứa đựng và được các điều các mầu nhiệm ấy hứa”.

Lời cầu cuối cùng ấy sẽ có thể lấy hứng từ một sự thay đổi hợp pháp, như đã xảy ra. Trong cách thức ấy Kinh Mân Côi cũng chiếm được một diện mạo thích hợp hơn với các truyền thống tinh thần khác nhau và với các cộng đoàn kitô khác nhau. Trong viễn tượng này, với sự phân định mục vụ cần thiết, thật đáng cầu mong cho các đề nghị ý nghĩa hơn được phổ biến, nhất là khi đã được thử nghiệm trong các trung tâm và đền thánh Đức Mẹ đặc biệt chú ý đến thói quen lần hạt Mân côi, làm thế nào để Dân Chúa có thể hưởng nhờ mọi phong phú tinh thần, bằng cách rút tỉa ra từ đó lương thực cho sự chiêm niệm riêng (s. 35).

Tiếp đến Tông thư nói về tràng chuỗi. Dụng cụ truyền thống đối với việc đọc Kinh Mân Côi là Chuỗi Hạt. Trong thực hành hời hợt nhất nó thường kết thúc bằng cách trở thành một dung cụ đơn sơ giúp đếm các kinh Kính Mừng Maria tiếp nối nhau. Nhưng nó cũng diễn tả một biểu tượng, có thể trao ban bề dầy cho việc chiêm niệm.

Liên quan tới điểm này điều đầu tiên cần ghi nhận đó là tràng chuỗi hướng về Chúa chịu đóng đanh, mở ra và kết thúc chính con đường cầu nguyện. Nơi Chúa Kitô được tập trung cuộc sống và lời cầu nguyện của các tín hữu. Tất cả khởi hành từ Người, tất cả hướng tới Người, tất cả, qua Người trong Chúa Thánh Thần, đạt tới Thiên Chúa Cha.

Như là dụng cụ đếm kinh, chuỗi hạt gợi lại con đường không ngừng nghỉ của việc chiêm niệm và sự hoàn thiện kitô. Chân phước Bartolo Longo cũng coi tràng hạt mân côi như ”một dây xích” cột buộc chúng ta với Thiên Chúa. Dây đích, đúng vậy, nhưng là một dây xích êm dịu; tương quan của chúng ta với Thiên Chúa là Cha luôn luôn được vén mở như là một tương quan êm dịu. Dây xích ”con thảo” đặt để chúng ta trong sự hòa hợp với Mẹ Maria, ”nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38), và sau cùng, với chính Chúa Kitô, Đấng, tuy là Thiên Chúa, đã trở thành ”nô lệ” vì yêu thương chúng ta (Pl 2,7).

Cũng thật là đẹp, khi trải dài ý nghĩa biểu tượng của chuỗi hạt ra cho tương quan của chúng ta với nhau, bằng cách nhớ rằng với chuỗi hạt là mối dây hiệp thông và tình huynh đệ nối kết tất cả mọi người chúng ta trong Chúa Kitô. (s. 36)

Trong số 37 Tông thư đề cập tới kiểu bắt đầu và kết thúc việc lần hạt Mân Côi. Trong thói quen thông thường, có nhiều kiểu dẫn nhập Kinh Mân Côi trong các môi trường giáo hội khác nhau. Trong một vài miền người ta bắt đầu với lời khẩn cầu của Thánh Vịnh 69: ”Lậy Chúa Trời, xin tới cứu giúp con, muôn lậy Chúa xin mau phù trợ”, như để dưỡng nuôi nơi người cầu nguyện ý thức khiêm tốn về sự nghèo nàn của mình. Tại nhiều nơi khác, trái lại, tín hữu bắt đầu với việc đọc kinh Tin Kính, như đặt để việc tuyên xưng đức tin làm nền tảng con đường chiêm niệm bắt đầu. Các kiểu tương tự này, trong mức độ chúng chuẩn bị tâm hồn cho việc chiêm niệm, đều là các thói quen hợp pháp. Thế rồi việc lần hạt kết thúc lời nguyện theo các ý chỉ của Đức Giáo Hoàng, để trải rộng cái nhìn của người cầu nguyện ra chân trời rông rãi của các nhu cầu của Giáo Hội. Chính để khích lệ dự phóng giáo hội này của Kinh Mân Côi mà Giáo Hội đã muốn ban các ân xá cho ai lần hạt Mân Côi với các quy định phải có.

Thật vậy nếu được sống như thế, Kinh Mân Côi thực sự trở thành một lộ trình tinh thần, trong đó Mẹ Maria là mẹ, là thầy, là người hướng dẫn và nâng đỡ tín hữu với sự bầu cử quyền thế của Mẹ. Làm sao lại ngạc nhiên nếu vào cuối lời kinh này, trong đó tín hữu đã sống kinh nghiệm tình mẫu tử của Mẹ Maria, tâm hồn họ cảm thấy nhu cầu tan chảy ra trong các lời chúc tụng Đức Thánh Trinh Nữ, trong lời cầu rạng ngời của kinh Kính Chào Nữ Vương hay trong lời nguyện của Kinh Cầu Đức Mẹ? Nó là triều thiên của một con đường nội tâm, dẫn đưa tín hữu với chỗ tiếp xúc sống động với mầu nhiệm của Chúa Kitô và của Mẹ Rất Thánh Người.

(Thánh Mẫu Học bài số 361)

 
Linh Tiến Khải

KINH MÂN CÔI VÀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI

holy-rosary-sister-lucia.jpg

Tông thư Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria do Đức Gioan Phaolô II ban hành năm 2002 kết thúc với việc đề cao tầm quan trọng của nó đối với nền hòa bình thế giới, và lời khẳng định nó là một kho tàng mà mọi tín hữu cần tái khám phá ra và tận dụng cho cuộc sống thiêng liêng của mình.

  
Liên quan tới việc phân chia thời gian cho việc đọc Kinh Mân Côi, Đức Gioan Phaolô II ghi nhận có nhiều người hằng ngày đọc trọn cả 150 kinh, tức lần ba chuỗi một cách đáng khen ngợi. Như thế Kinh Mân Côi làm đầy ngày sống của biết bao người sống đời chiệm niệm hay đồng hành với các người bệnh tật và già cả có nhiều thời gian để cầu nguyện. Đương nhiên là có nhiều người chỉ có thể lần một phần, theo một trật tự nào đó trong tuần, đặc biệt khi có thêm các mầu nhiệm của sự sáng nữa. Việc chia Kinh Mân Côi ra trong các ngày khác nhau trong tuần trao ban cho các ngày sống của tín hữu một ”mầu sắc thiêng liêng”, giống như Phụng vụ làm với các mùa trong năm.

Theo thói quen bình thường hai ngày thứ hai và thứ năm được dành cho các ”mầu nhiệm của sự vui mừng”, thứ ba và thứ sáu cho các ”mầu nhiệm của sự khổ đau”, thứ tư, thứ bẩy và Chúa Nhật cho các ”mầu nhiệm của sự vinh quang”. Như vậy thì xen kẽ các mầu nhiệm của sự sáng vào đâu? Xét rằng các mầu nhiệm vinh quang được tái đề nghị cho ngày thứ bẩy và Chúa Nhật, và thứ bẩy theo truyền thống là một ngày có tính cách thánh mẫu mạnh mẽ, vì thế nên dời các mầu nhiệm vui mừng vào thứ bẩy, trong đó sự hiện diện của Mẹ Maria sâu đậm hơn. Như thế ngày thứ năm còn trống dành cho các ”mầu nhiệm sự sáng”.

Tuy nhiên, đây chỉ là các chỉ dẫn đề nghị, mỗi tín hữu và mỗi cộng đoàn hoàn toàn tự do trong việc phân chia theo các nhu cầu tinh thần và các đòi hỏi mục vụ, và nhất là các trùng hợp phụng vụ có thể gợi ý cho các thích ứng phù hợp. Điều thực sự quan trọng đó là Kinh Mân Côi luôn ngày càng được quan niệm và kinh nghiệm hơn như lộ trình chiêm niệm. Qua Kinh Mân Côi, trong cách thế bổ túc cho sinh hoạt Phụng Vụ, tuần sống của tín hữu kitô, được xậy dựng trên ngày Chúa Nhật là ngày phục sinh, trở thành một con đường qua các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Kitô, là Đấng khẳng định Người là Chúa của thời gian và của lịch sử trong cuộc sống của các môn đệ Người (s. 38).

Tất cả những gì đã nói cho tới đây, diễn tả một cách rộng rãi sự phong phú của lời kinh truyền thống này; nó có sự đơn sơ của một lời kinh dân gian, nhưng cũng chứa đựng sự sâu xa thần học của một lời kinh thích hợp với người cảm thấy nhu cầu một việc chiêm niệm trưởng thành hơn.

Giáo Hội đã luôn luôn thừa nhận sự hữu hiệu đặc biệt của lời kinh này, bằng cách phó thác cho nó, cho việc đọc chung và cho việc thực hành liên lỉ của nó, các việc khó khăn nhất. Trong các thời điểm, trong đó chính Kitô giáo bị đe dọa, chính sức mạnh của lời kinh này giúp thoát hiểm, và Đức Trinh Nữ Mân Côi đã được kính chào như Đấng phù hộ của ơn cứu rỗi.

Ngày nay tôi xin phó thác cho lời kinh này vấn đề của nền hòa bình thế giới và vấn đề của gia đình (s.39).

Các khó khăn mà chân trời thế giới cho thấy trong lúc khởi đầu Ngàn Năm mới này khiến cho chúng ta nghĩ rằng chỉ có một sự can thiệp của Đấng Trên Cao, mới có thể định hướng các con tim của những người sống trong các hoàn cảnh xung đột và của những người nắm trong tay các vận mệnh của các quốc gia, và có thể giúp hy vọng vào một tương tai bớt đen tối hơn.

Kinh Mân Côi, tự bản chất của nó, là lời kinh hướng tới hòa bình, vì chính sự kiện hệ tại nơi việc chiêm ngắm Chúa Kitô, Vị Hoàng Tử của hòa bình và là sự ”bình an của chúng ta” (Ep 2,14). Ai đồng hóa với mầu nhiệm của Chúa Kitô - và Kinh Mân Côi nhắm dẫn tới điều này - thì học biết bí mật của hòa bình và biến nó thành một chương trình cuộc sống. Ngoài ra, vì tính cách suy niệm của nó, với sự tiếp nối thanh thản của các Kinh Kính Mừng, Kinh Mân Côi thực thi trên người cầu nguyện một hành động hòa bình khiến cho họ sẵn sàng tiếp nhận và sống nó trong sâu thẳm con người mình và phổ biến nó chung quanh mình hòa bình đích thật là ơn đặc biệt của Chúa Phục Sinh (x. Ga 14,27; 20,21).

Thế rồi nó là lời kinh hòa bình bởi các hoa trái tình bác ái nó sinh ra. Nếu được đọc như một lời cầu suy niêm đích thật, Kinh Mân Côi khi tạo thuận tiện cho cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô trong các mầu nhiệm của Người, cũng không thể không chỉ cho thấy gương mặt của Chúa Kitô nơi các anh em khác, đặc biệt nơi những người đau khổ nhất. Trong các mầu nhiệm sự vui, làm sao có thể dán mắt vào mầu nhiệm của Trẻ Thơ sinh ra tại Bếtlêhem, mà lại không cảm thấy ước mong tiếp nhân, bảo vệ và thăng tiến sự sống, vác lấy các khổ đau của các trẻ em tại khắp mọi nơi trên thế giới? Trong các mầu nhiệm của sự sáng, làm sao có thể theo chân Chúa Kitô, Đấng mạc khải, mà không quyết định làm chứng cho các phúc thật của Người trong cuộc sống thường ngày? Làm sao khi chiêm ngắm Chúa Kitô vác thập giá và bị đóng đanh, mà không cảm thấy nhu cầu biến mình trở thành các “Simon Sirênê” nơi mỗi người anh em bị đánh gẫy bởi khổ đau hay bị nghiền nát bởi nỗi thất vọng? Sau cùng làm sao có thể gắn chặt cái nhìn vào vinh quang của Chúa Kitô phục sinh và vào Mẹ Maria được đội triều thiên làm Nữ Vương, mà không cảm thấy ước muốn làm cho thế giới này trở thành xinh đẹp hơn, công bằng hơn, gần với chương trình của Thiên Chúa hơn?

Tóm lại, trong khi khiến cho chúng ta hướng mắt nhìn lên Chúa Kitô, Kinh Mân Côi cũng làm cho chúng ta trở thành những người xây dựng hòa bình trên thế giới. Vì tính cách cầu xin kiên trì và ca đoàn của nó, đồng điệu với lời Chúa Kitô mời gọi phải ”cầu nguyện luôn luôn không mệt mỏi” (Lc 18,1), Kinh Mân Côi cho phép chúng ta hy vọng rằng, cả ngày nay nữa, một ”cuộc chiến” khó khăn biết bao như cuộc chiến cho nền hòa bình có thể chiến thắng. Như thế không phải là một trốn chạy các vấn đề của thế giới, Kinh Mân Côi thúc đẩy chúng ta nhìn chúng với con mắt trách nhiệm và quảng đại, và lấy được cho chúng ta sức mạnh trở lại với các vấn đề đó với sự chắc chắn được Thiên Chúa trợ giúp và với cương quyết trong mọi hoàn cảnh làm chứng cho ”tình bác ái là mối dây của sự hoàn thiện” (Cl 3,14) (s. 40).

Là lời cầu cho hòa bình Kinh Mân Côi cũng đã luôn luôn là lời cầu của gia đình và cho gia đình. Xưa kia lời cầu này đặc biệt thân thiết với các gia đình kitô, và chắc chắn nó tạo thuận tiện cho sự hiệp thông của gia đình. Cần phải cầu nguyện trở lại trong gia đình và cầu nguyện cho các gia đình, bằng cách sử dụng hình thức của lời cầu nguyện này.

Nếu trong Tông thư Bước vào ngàn năm mới tôi đã khích lệ cử hành Phụng vụ Giờ Kinh cả từ phía các giáo dân trong cuộc sống thường ngày của các cộng đoàn giáo xứ và các nhóm tín hữu kitô, thì tôi cũng ước mong làm như thế đối với Kinh Mân Côi. Đây là hai con đường không thay thế nhau nhưng bổ túc cho nhau của việc chiêm niệm kitô. Vì thế tôi xin tất cả những ai dấn thân trong công tác mục vụ gia đình gợi ý thuyết phục các gia đình đọc Kinh Mân Côi.

Gia đình hiệp nhất cầu nguyện, thì sẽ hiệp nhất. Do truyền thống cổ xưa Kinh Mân Côi là lời kinh trong đó gia đình tìm lại nhau. Chính khi nhìn lên Chúa Giêsu, các thành phần riêng rẽ của gia đình cũng sẽ phục hồi được khả năng luôn nhìn nhau với con mắt mới mẻ, để thông truyền, liên đới, tha thứ cho nhau, cùng nhau khởi hành từ một giao ước tình yêu, được canh tân bởi Thần Khí của Thiên Chúa.

Nhiều vấn đề của các gia đình ngày nay, đặc biệt trong các xã hội tiến bộ về kinh tế, tùy thuộc nơi sự kiện việc thông truyền ngày càng khó khăn hơn. Người ta không sống với nhau, và cả trong những lúc hiếm hoi được ở với nhau người ta bị cuốn hút bởi các hình ảnh của một máy truyền hình. Đọc Kinh Mân Côi trở lại trong gia đình có nghĩa là đặt vào trong cuộc sống thường ngày các hình ảnh khác, các hình ảnh của mầu nhiệm cứu độ: hình ảnh của Chúa Cứu Thế và hình ảnh của Mẹ Rất Thánh Người. Gia đình mà cùng nhau đọc Kinh Mân Côi, thì dựng lại một chút bầu khí của nhà Nagiarét: đặt để Chúa Giêsu vào chính giữa, chia sẻ các niềm vui và khổ đau với Người, đặt để trong tay Người các nhu cầu và các dự tính, kín múc từ Người niềm hy vọng và sức mạnh cho lộ trình cuộc sống (s.41).

Thật là đẹp và phong phú tín thác lộ trình lớn lên của con cái cho Kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi lại không phải là lộ trình cuộc sống của Chúa Kitô từ khi thụ thai cho tới lúc chết, cho tới sự phục sinh và vinh hiển sao? Ngày nay đối với các bậc cha mẹ việc theo dõi con cái trong các chặng khác nhau của cuộc đời chúng ngày càng trở thành cam go hơn. Trong xã hội của kỹ thuật tân tiến, của các phương tiện truyền thông và toàn cầu hóa, tất cả đã trở thành qúa mau chóng, và khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng lớn hơn. Các sứ điệp khác nhau, và nhất là các kinh nghiệm không thể thấy trước được chiếm chỗ trong cuộc sống của trẻ em và người trẻ, và đối với các bậc cha mẹ đôi khi trở thành nỗi âu lo phải đương đầu với các nguy cơ mà con cái gặp phải. Không hiếm xảy ra các kinh nghiệm nóng bỏng khi nhận thấy các thất bại của con cái trước sự cám dỗ của ma túy, các lôi cuốn của chủ trương hưởng lạc tháo thứ, trước các cám dỗ của bạo lực, trước các kiểu diễn tả khác nhau, nhất là của sự vô nghĩa và tuyệt vọng.

Cầu nguyện với Kinh Mân Côi cho con cái và với con cái, bằng cách giáo dục chúng ngay từ tuổi thơ cho lúc ”dừng lại cầu nguyện” này trong ngày sống của gia đình, chắc chắn không phải là giải pháp của mọi vấn đề, nhưng nó là một trợ giúp tinh thần không nên đánh giá thấp. Người ta có thể phản bác rằng Kinh Mân Côi xem ra ít thích hợp với khẩu vị của trẻ em và người trẻ ngày nay. Nhưng có lẽ việc phản bác chú ý tới một kiểu thực hành thường it được săn sóc. Vả lại, trừ việc duy trì cấu trúc nền tảng của nó, đâu có gì cấm đối với trẻ em và người trẻ việc đọc Kinh Mân Côi trong gia đình hay trong các nhóm được phong phú hóa với các biểu tượng cụ thể thích hợp giúp sự hiểu biết và đánh gía nó. Tại sao lại không thử xem? Một việc mục vụ giới trẻ kiên trì, say mê và sáng tạo - các Ngày Quốc Tế Giới Trẻ đã cung cấp cho tôi thước đo điều này - có khả năng làm được những điều thực sự ý nghĩa, nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa. Nếu Kinh Mân Côi được trình bầy tốt, tôi chắc chắn rằng chính người trẻ sẽ có khả năng một lần nữa khiến cho người lớn ngạc nhiên trong việc biến lời cầu nguyện này trở thành của riêng họ, và trong việc đọc nó với lòng hăng say đặc biệt của tuổi trẻ (s. 42).

Kết thúc Tông thư Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria Đức Gioan Phaolô II khẳng định rằng nó là một kho tàng mà mọi tín hữu kitô cần tái khám phá ra trong cuộc sống. Ngài viết: Anh chi em rất thân mến, một lời cầu dễ như thế, đồng thời lại phong phú như vậy thật đáng được tái khám phá ra bởi cộng đoàn kitô. Chúng ta hãy làm điều ấy trong năm này, bằng cách nhận lấy đề nghị này như việc củng cố đường hướng đã được vạch ra trong Tông thư Bước vào ngàn năm thứ ba, đã gợi hứng cho các chương trình mục vụ của biết bao nhiêu Giáo hội địa phương trong dự án dấn thân cho tương lai gần.

Đức Gioan Phaolô II đã đặc biệt mời gọi các Giám Mục, linh mục, phó tế các nhân viên mục vụ trong các sứ vụ khác nhau trở thành các người cổ võ việc lần hạt Mân Côi. Ngài cũng tín thác nơi các thần học gia và xin họ họ đưa ra các suy tư mạnh mẽ và khôn ngoan, đâm rễ sâu trong Lời Chúa và nhậy cảm đối với kinh nghiệm sống của dân kitô, giúp tái khám phá ra các nền tảng kinh thánh, các kho tàng tinh thần và gia trị mục vụ của lời kinh truyền thống này.

Ngài mời gọi tín hữu thuộc mọi giai tầng, các gia đình kitô, người đau yếu, già cả và giới trẻ tin tưởng cầm lại trong tay tràng chuỗi Mân Côi, tái khám phá nó dưới ánh sáng của Thánh Kinh, trong sự hòa hợp với Phụng vụ, trong bối cảnh cuộc sống thường ngày. Đức Gioan Phaolô II ước mong lời mời gọi này của ngài được lắng nghe. Vào dịp kỷ niệm 25 năm nhận chức Chủ Chăn Giáo Hội Hoàn Vũ ngài tín thác Tông thư này trong đôi tay khôn ngoan của Đức Trinh Nữ Maria, bằng cách phủ phục trong tinh thần trước ảnh Mẹ tại đền thánh Pompei, do chân phước Bartolo Longo, tông đồ của Kinh Mân Côi, dâng kính Mẹ. Rồi ngài kết thúc Tông thư với các lời lấy lại từ ”Kinh khẩn nài Nữ Vương Mân Côi” của chân phước như sau: ”Ôi Tràng hoa hồng diễm phúc của Mẹ Maria, dây xích dịu dàng cột buộc chúng con vào Thiên Chúa, dây tình yêu kết hiệp chúng con với các Thiên Thần, tháp cứu rỗi trong những lúc hỏa ngục tấn công, nơi chắc chắn trong cuộc đắm tầu chung, chúng ta sẽ không bao giờ rời ngươi nữa. Ngươi sẽ là sự ủi an cho chúng ta trong giờ hấp hối. Sẽ dành để cho ngươi nụ hôn cuối cùng của sự sống đang tắt lịm. Và mấp máy cuối cùng trên môi chúng con sẽ là tên ngọt ngào của Mẹ, ôi Nữ Vương Mân Côi Pompei, ôi Mẹ thương mến của chúng con, ôi Nơi ẩn náu của các kẻ tội lỗi, ôi Nữ Hoàng ủi an của những kẻ khổ đau. Xin chúc tụng Mẹ mọi nơi, hôm nay và luôn mãi, dưới đất và trên trời”.

(Thánh Mẫu Học bài số 362)

Linh Tiến Khải

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

KINH MÂN CÔI, CON ĐƯỜNG HẤP THU CÁC MẦU NHIỆM


PopeFrancis.jpg  
Kinh Mân Côi, con đường hấp thụ mầu nhiệm. Đức Gioan Phaolô II viết: Việc suy niệm các mầu nhiệm của Chúa Kitô được đề nghị trong Kinh Mân Côi với một phương pháp đặc thù, bởi bản chất của nó thích hợp cho việc hấp thụ các mầu nhiệm ấy. Điều này trước hết có giá trị đối với Kinh Kính Mừng, được lập đi lập lại 10 lần ở mỗi mầu nhiệm. Nếu nhìn việc lập đi lập lài này một cách hời hợt, người ta có thể bị cám dỗ cho rằng Kinh Mân Côi là một thực hành khô khan và buồn chán. Trái lại, người ta có thể đi đến chỗ nhận được từ Kinh Mân Côi một cái nhìn khác, nếu coi nó như việc diễn tả tình yêu qua đó người ta không mệt mỏi trở lại với người yêu với các biểu lộ tràn trề, tuy giống nhau trong việc biểu lộ, nhưng luôn luôn mới mẻ đối với tâm tình thấm nhập chúng.

Nơi Chúa Kitô Thiên Chúa đã thực sự nhận lấy một ”con tim bằng thịt”. Người đã không chỉ có một trái tim thiên linh, giàu lòng từ bi và tha thứ, nhưng cũng có một trái tim nhân loại, có khả năng cảm nhận tất cả mọi rung cảm của tình thương mến. Nếu chúng ta cần có một chứng tá tin mừng về điểm này, thì không khó tìm thấy trong cuộc đối thoại của Chúa Kitô với thánh Phêrô sau khi sống lại: ”Simon con Gioan, con có yêu Thầy không?” Câu hỏi được đưa ra ba lần và ba lần câu trả lời là: ”Lậy Chúa, Chúa biết con yêu Chúa” (x. Ga 21,15-17). Vượt ngoài ý nghĩa chuyên biệt của văn bản, rất quan trọng đối với sứ mệnh của Phêrô, ai cũng nhận ra vẻ đẹp của ba lần lập lại này, trong đó câu hỏi tha thiết và câu trả lời được diễn tả ra trong các từ quen thuộc với kinh nghiệm tình yêu loài người. Để hiểu Kinh Mân Côi, cần phải bước vào trong năng động tâm lý của tình yêu.

Có một điều rõ ràng: đó là nếu việc lập lại lời Kinh Kính Mừng Maria trực tiếp hướng tới Đức Maria, thì với Mẹ và qua Mẹ cử chỉ của tình yêu rốt cuộc cũng hướng tới Chúa Giêsu. Việc lập lại được dưỡng nuôi bởi ước mong có một sự đồng dạng ngày càng tràn đầy hơn với Chúa Kitô, là chương trình đích thật của cuộc sống Kitô. Thánh Phaolô đã loan báo chương trình ấy với các lời nảy lửa như sau: ”Đối với tôi sống là Chúa Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1,21). Và còn nữa: ”Không còn phải là tôi sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Kinh Mân Côi giúp chúng ta lớn lên trong việc trở thành đồng hình dạng này cho tới đích điểm của sự thánh thiện (s. 26).

Tiếp tục Tông thư Đức Gioan Phaolô II khẳng định rằng Kinh Mân Côi là một phương pháp có giá trị giúp tín hữu trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô, nhưng nó cần được cải tiến. Tông thư viết: ”Tương quan với Chúa Kitô có thể trở thành mạnh mẽ hơn nhờ sự trợ giúp của một phương pháp không được gây ngạc nhiên. Thiên Chúa thông truyền với con người bằng cách tôn trọng kiểu sống của bản chất cuộc sống chúng ta và các tiết nhịp của nó. Vì thế tuy hiểu biết các hình thức cao vượt nhất của sự thinh lặng thần bí trong đó tất cả các hình ảnh, lời nói và cử chỉ đều như được vượt thắng bởi sự kết hiệp sâu đậm không thể diễn tả được giữa con người với Thiên Chúa, nền tu đức Kitô thường được ghi dấu bởi sự lôi cuốn hoàn toàn của con người, trong thực tại tâm thể lý và tương quan phức tạp của nó.

Điều này xuất hiện một cách hiển nhiên trong Phụng vụ. Các Bí tích và các lễ nghi được cấu trúc với một loạt các nghi thức, liên quan tới các chiều kích khác nhau của con người. Cả lời cầu không có tính cách phụng vụ cũng diễn tả cùng đòi buộc ấy. Điều này được xác nhận bởi sự kiện bên Đông Phương lời cầu nguyện đặc biệt nhất của việc suy niệm Kitô học tập trung nơi các lời sau đây: ”Lậy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, một cách truyền thống được gắn liền với nhịp thở, trong khi tạo thuận tiện cho sự kiên trì trong lời khẩn cầu, nó cũng hầu như bảo đảm một trọng lượng thể lý cho ước mong Chúa Kitô trở thành hơi thở, linh hồn và ”tất cả” của sự sống (s. 27).

Trong Tông thư ”Bước vào ngàn năm mới” tôi đã nhắc nhớ rằng ngày nay cả bên Tây Phương cũng có một đòi buộc suy niệm được canh tân; đôi khi nó tìm thấy trong các tôn giáo khác các phương thức lôi cuốn. Không thiếu các tín hữu Kitô, vì ít hiểu biết truyền thống chiêm niệm Kitô, để cho mình bị lôi cuốn bởi các đề nghị này. Tuy nhiên, cho dù có các yếu tố tích cực và đôi khi có thể sát nhập được với kinh nghiệm Kitô, chúng thường ẩn dấu một nền tảng ý thức hệ không thể chấp nhận được. Cả trong các kinh nghiệm này nữa có một phương pháp rất phổ biến nhắm tới một mục tiêu của sự tập trung tinh thần, được củng cố với các kỹ thuật có tính cách tâm thể lý, lập đi lập lại và biểu tượng. Kinh Mân Côi nằm trong khung cảnh phổ quát này của hiện tượng học tôn giáo, nhưng nó có các đường nét đặc thù riêng, tương ứng với các đòi buộc chuyên biệt Kitô.

Thật thế, Kinh Mân Côi chỉ là một phương pháp giúp chiêm niệm. Như là phương pháp, nó được dùng trong tương quan với mục đích và không thể trở thành mục đích cho chính nó. Tuy nhiên, vì nó là hoa trái của kinh nghiệm ngàn đời, không được đánh giá thấp phương pháp này. Kinh nghiệm của biết bao nhiêu vị Thánh bênh vực cho phương pháp ấy. Nhưng điều này không lấy mất đi sự kiện nó có thể được cải tiến. Đó chính là điều việc hội nhập nhắm tới trong chu kỳ của các mầu nhiệm, của loạt mầu nhiệm mới của sự sáng, một cách thống nhất với vài gợi ý liên quan tới việc đọc Kinh Mân Côi mà Tông thư này đề nghị. Tuy tôn trọng cấu trúc của lời kinh đã được củng cố một cách rộng rãi, với các mầu nhiệm sự sáng này tôi muốn giúp các tín hữu hiểu nó trong các mặt trong biểu tượng của chúng, hòa hợp với các đòi buộc của cuộc sống thường ngày. Không có điều này thì Kinh Mân Côi có nguy cơ không chỉ không đem lại các hiệu qủa tinh thần đáng cầu mong, mà tràng hạt mân côi mà người ta thường dùng để đọc kinh rốt cuộc còn bị coi như một bùa chú hay một vật ma thuật, với một việc hiểu sai lạc triệt để ý nghĩa và nhiệm vụ của nó (s. 28).

Tiếp đến Tông thư của Đức Gioan Phaolô II duyệt xét các phần khác nhau của Kinh Mân Côi. Trước hết là việc loan báo mầu nhiệm cần suy niệm. Loan báo mầu nhiệm và tốt hơn là có cơ hội nhìn vào một hình ảnh diễn tả lại mầu nhiệm ấy, thì giống như là mở ra một cảnh để tập trung sự chú ý trên đó. Các lời nói hướng dẫn trí tưởng tượng và tâm hồn vào trong giai thoại xác định, hay vào thời điểm đó trong cuộc sống của Chúa Kitô. Trong nền tu đức đã phát triển trong Giáo Hội, việc tôn kính các ảnh tượng và nhiều kiểu sùng mộ giầu các yếu tố nhậy cảm, cũng như chính phương pháp do thánh Ignazio thành Loyola đề nghị trong Linh thao, đã sử dụng yếu tố thị giác và tưởng tượng, cho rằng nó trợ giúp rất nhiều cho việc tạo thuận lợi cho sự tập trung của tâm hồn trên mầu nhiệm. Ngoài ra, nó là một phương pháp đáp ứng cái luận lý của chính việc Nhập Thể: nơi Đức Giêsu Thiên Chúa đã muốn nhận lấy các đường nét của con người. Chính qua thực tại thân xác của Người mà chúng ta được dẫn tới chỗ tiếp xúc với mầu nhiệm Thiên Chúa của Người.

Việc loan báo các mầu nhiệm khác nhau của Kinh Mân Côi cũng đáp ứng đòi buộc cụ thể này. Dĩ nhiên, chúng không thay thế Phúc Âm và cũng không nhắc lại mọi trang của Phúc Âm. Vì thế Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Thánh Kinh, suy niệm và áp dụng vào đời sống, trái lại nó giả thiết và thăng tiến kiểu đọc, suy niệm và áp dụng Thánh Kinh như vậy. Nhưng nếu các mầu nhiệm được suy ngắm trong Kinh Mân Côi, cả với các mầu nhiệm sự sáng nữa, hạn chế ở các đường nét nền tảng cuộc sống của Chúa Kitô, thì từ chúng tâm hồn có thể dành chỗ dễ dàng hơn cho phần còn lại của Phúc Âm, nhất lăa khi Kinh Mân Côi được đọc trong các lúc đặc biệt kéo dài việc suy niệm (s. 29).

Thứ hai là việc lắng nghe Lời Chúa. Để cho việc suy niệm có nền tảng kinh thánh và được sâu sắc hơn, thật là hữu ích khi việc loan báo mầu nhiệm được tiếp nối bởi việc tuyên đọc một đoạn kinh thánh tương ứng. Tùy theo hoàn cảnh nó có thể dài ngắn khác nhau. Thật thế, các lời khác không bao giờ đạt đươc sự hữu hiệu riêng của lời được linh ứng. Lời này được lắng nghe với xác tín rằng nó là Lời của Thiên Chúa, được tuyên đọc cho ngày hôm nay và ”cho tôi”.

Khi lắng nghe như vậy, nó đi vào trong phương pháp lập đi lập lại của Kinh Mân Côi mà không khơi dậy sự nhàm chán, gây ra bởi việc nhắc lại một tin tức đã được biết rồi. Không, đây không phải là đem trở lại trí nhớ một tin tức, mà là để cho Thiên Chúa ”nói”. Trong một vài trường hợp đọc Kinh Mân Côi trọng thể và cộng đoàn, lời này có thể được minh giải bởi vài chú thích ngắn gọn một cách thích hợp (s. 30).

Thứ ba là sự thinh lặng. Việc lắng nghe và suy niệm được dưỡng nuôi bằng sự thinh lặng. Thật là thích hợp sau khi loan báo mầu nhiệm và công bố Lời Chúa, người ta thinh lặng một lúc để dán chặt cái nhìn vào mầu nhiệm được suy niệm, trước khi bắt đầu đọc kinh. Việc khám phá ra sự thinh lặng là một trong các bí mật của việc thực hành chiêm niệm và suy tư. Giữa các hạn hẹp của một xã hội bị kỹ thuật hóa một cách mạnh mẽ và các phương tiện truyền thông, cũng có sự kiện việc thinh lặng ngày càng trở thành khó khăn hơn. Như trong Phụng vụ các lúc thinh lặng được yêu cầu, cả trong buổi đọc Kinh Mân Côi sau khi lắng nghe Lời Chúa, thật thích hợp nghỉ một lát, trong khi tâm hồn dán cái nhìn vào nội dung của mầu nhiệm xác định (s.31).

Thứ bốn là Kinh Lậy Cha. Sau khi lắng nghe Lời Chúa và tập trung vào mầu nhiệm thật là tự nhiên việc nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa Cha. Trong từng mầu nhiệm một Chúa Giêsu luôn luôn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa Cha, mà Ngài liên lỉ hướng tới, bởi vì Ngài nghỉ ngơi trong cung lòng Người (x. Ga 1,18). Ngài muốn dẫn đưa chúng ta vào trong sự thân tình với Chúa Cha, để chúng ta cùng Ngài nói lên: ”Abba, Cha ơi” (Rm 8,15; Gl 4,6). Trong tương quan với Thiên Chúa Cha Ngài làm cho chúng ta trở thành các em của Ngài và anh em với nhau, bằng cách thông truyền cho chúng ta Thần Khí của Ngài và của Chúa Cha. Như thế Kinh Lậy Cha được đặt như nền tảng việc suy niệm có tính cách Kitô thánh mẫu học, được khai triển qua việc lập đi lập lại Kinh Kính Mừng Maria, khiến cho sự suy niệm mầu nhiệm trở thành một kinh nghiệm của Giáo Hội, cả khi nó được đọc trong sự cô đơn.

(Thánh Mẫu Học bài số 360)
Linh Tiến Khải

FATIMA, ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II VÀ BÍ MẬT THỨ BA

fatima.jpg

Nhân dịp kỷ niệm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima lần đầu tiên ngày 13 tháng 5 năm 1917, cách nay 99 năm, báo chí Công Giáo viết nhiều chung quanh ý nghĩa của sự kiện Fatima nói chung.

  
Năm điều đáng lưu ý của Bí Mật Thứ Ba
Điều nổi bật nhất vẫn là ý nghĩa của Bí Mật Thứ Ba, một bí mật dù đã được bật mí nhưng vẫn là một bí mật với rất nhiều người Công Giáo hiện nay. Về ý nghĩa này, chính thị nhân hàng đầu của biến cố là chị Lucia cho hay: “việc giải thích không thuộc thị nhân mà thuộc Giáo Hội”. Thành thử, việc giải thích một số dấu hiệu và biểu tượng của Đức Mẹ Fatima nhằm đem lại cho tín hữu một hướng dẫn rõ ràng để hiểu ý định của Thiên Chúa muốn mạc khải cho ta là tùy thuộc Giáo Hội Công Giáo.

Giáo Hội đã làm việc trên năm 2000, khi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin (nay là Đức Giáo Hoàng Hưu Trí Bênêđíctô XVI), viết một bài nhận định và giải thích thần học khá dài về “Bí Mật Thứ Ba” nổi tiếng. Ngài được trao trách nhiệm minh giải các dấu hiệu và biểu tượng trong các thị kiến về Đức Mẹ và ngài đã thực hiện được nhiều khám phá rất đáng lưu ý.

Theo ký giả Philip Kosloski, trong số các khám phá ấy, 5 điều sau đây đáng lưu ý hơn cả.

Thống hối, thống hối, thống hối!

1. “Chữ chủ yếu của phần thứ ba này là lời nài van 3 lần: ‘Thống hối, thống hối, thống hối!’ Lời đầu tiên của Tin Mừng xuất hiện trong tâm trí ta: ‘Hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Hiểu các dấu chỉ của thời đại có nghĩa chấp nhận sự cấp thiết của thống hối, của hóan cải, của đức tin. Đây là đáp ứng đúng đắn đối với thời điểm lịch sử này, một thời điểm được đánh dấu bằng nhiều nguy cơ trầm trọng được phác họa trong các hình ảnh sau đây”.

Sứ điệp chính của Đức Mẹ Fatima là “thống hối”. Ngài tìm cách nhắc thế giới nhớ tới việc phải quay lưng khỏi sự ác và sửa chữa các tàn hại do tội lỗi ta gây ra. Đây là “chìa khóa” để hiểu các phần còn lại của “bí mật”. Mọi sự đều xoay quanh nhu cầu thống hối này.

Chúng ta đã rèn nên Lưỡi Gươm Rực Lửa 

2. “Thiên thần với lưỡi gươm rực lửa bên trái Mẹ Thiên Chúa nhắc ta nhớ tới các hình ảnh tương tự trong Sách Khải Huyền. Điều này muốn nói lên đe dọa phán xét đang ló dạng trên thế giới. Ngày nay, viễn tượng thế giới trở thành đống tro tàn bởi biển lửa không còn là một sản phẩm thuần tưởng tượng nữa: chính con người, với các phát minh của họ, đã rèn nên lưỡi gươm rực lửa. Thị kiến, sau đó, đã cho thấy quyền lực chống lại thứ sức mạnh tàn phá ấy, sự huy hoàng của Mẹ Thiên Chúa và, theo một nghĩa nào đó, phát xuất từ việc này là lời mời gọi thống hối”. 

Phần hiện ra này là phần gây phiền não hơn cả. Dường như Thiên Chúa muốn giáng xuống ta “lưỡi gươm rực lửa”. Tuy nhiên, Đức Hồng Y Ratzinger nhấn mạnh rằng “lưỡi gươm rực lửa” này là điều chính chúng ta tạo ra (như bom nguyên tử chẳng hạn), chứ không hẳn từ trời giáng xuống. Tin vui là: thị kiến cho hay lưỡi gươm rực lửa “tàn lụi khi tiếp xúc với vẻ huy hoàng của Đức Mẹ” trong liên hệ với lời kêu gọi “thống hối, thống hối, thống hối!”. Mẹ Diễm Phúc mới là người có tiếng nói quyết định sau cùng và vẻ sáng lạn của ngài chặn đứng mọi tai biến. 


Tương lai không được tạc vào đá 

3. “Sự quan trọng của tự do con người được làm nổi bật: thực vậy, tương lai không được xác định một cách bất biến, và hình ảnh mà ba trẻ nhìn thấy không hề là một cuộc duyệt phim trước về tương lai trong đó, không điều gì có thể thay đổi được. Thực thế, trọn trọng điểm của thị kiến là đem tự do vào viễn ảnh và lái tự do về hướng tích cực… [Viễn kiến này] nhằm huy động các lực lượng thay đổi theo hướng đúng đắn của chúng”. 

Trái với niềm tin bình dân, các viễn kiến được Đức Mẹ Fatima ban cho không phải là một cuộc duyệt trước điều sẽ xẩy ra. Chúng là một cuộc duyệt trước những điều có thể xẩy ra, nếu ta không đáp lại lời kêu gọi thống hối và hoán cải của Đức Mẹ. Ta vẫn còn duy trì được ý chí tự do của ta và ta được thúc giục sử dụng nó để phục vụ thiện ích của toàn thể nhân loại.

Máu Các Tử Đạo là Hạt Giống của Giáo Hội 

4. “Phần kết luận của ‘bí mật’… là một thị kiến đầy an ủi, một thị kiến nhằm mở ra một lịch sử máu và nước mắt cho quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Dưới cánh thập giá, các thiên thần thu lượm máu các tử đạo, và với máu này, các ngài đem lại sự sống cho các linh hồn đang trên hành trình hướng về Thiên Chúa… Như Giáo Hội đã được sinh hạ từ sự chết của Chúa Kitô, từ cạnh sườn bị đâm thủng của Người thế nào, thì sự chết của các tử đạo cũng sinh hoa trái cho sự sống tương lai của Giáo Hội như vậy. Do đó, thị kiến của phần thứ ba trong ‘bí mật’, dù thoạt đầu gây phiền não là thế, nhưng đã kết thúc bằng một hình ảnh đầy hy vọng: không có đau khổ nào vô ích cả, và chính một Giáo Hội đau khổ, một Giáo Hội của các vị tử đạo mới trở thành cột mốc cho con người trong cuộc tìm kiếm Thiên Chúa của họ”.

Đúng là thị kiến trên có mùi đau khổ và nguy biến, nhưng nó không vô ích. Giáo Hội có thể phải đau khổ nhiều trong những năm sắp tới, nhưng việc này không nên khiến ta phải ngạc nhiên. Giáo Hội vốn kinh qua bách hại ngay từ thời đóng đinh và sự đau khổ của chúng ta hiện nay sẽ chỉ sinh hiệu quả tốt trong tương lai.

Đừng sợ. Thầy đã thắng thế gian 


5. “ ‘Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ thắng’. Điều này có nghĩa gì? Trái tim rộng mở cho Chúa, được thanh tẩy nhờ việc chiêm ngắm Người, thì mạnh hơn súng đạn bất cứ loại nào… Thần Ác đang có uy lực trong thế giới này… Nó có uy lực vì tự do của ta liên tục để mình bị dẫn xa rời Thiên Chúa. Nhưng… tự do chọn điều ác không còn tiếng nói sau cùng của nó nữa… tiếng nói thắng thế là tiếng nói này: ‘Các con sẽ chịu nhiều thống khổ trong thế gian, nhưng các con đừng sợ; Thầy đã thắng thế gian’ (Ga 16:33). Sứ điệp Fatima mời gọi ta tin tưởng vào lời hứa này”. 

Tóm lại, “bí mật” Fatima cho chúng ta niềm hy vọng giữa lòng một thế giới bị tan hoang bởi tham lam, ích kỷ và chiến tranh. Satan sẽ không chiến thắng và các kế hoạch tàn ác của nó sẽ bị phá tan bởi Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Mẹ. Rất có thể có đau khổ lớn lao trong một tương lai gần, nhưng nếu ta bám chặt lấy Chúa Giêsu và Mẹ của Người, chúng ta vẫn mãi chiến thắng.

Đức Gioan Phaolô II và biến cố Fatima

Cựu mục sư Anh Giáo nay là linh mục Công Giáo Dwight Longenecker thì cho rằng Fatima chứng minh cho ta thấy đàng sau chính trị và quyền lực, còn có “Một Tay Chơi” khác. Và theo vị linh mục này, các vị giáo hoàng từ Đức Piô XII trở đi đều nói lên niềm tin của các ngài vào tính siêu nhiên của các biến cố diễn ra tại Fatima, nên toàn thể loài người nên lưu tâm tới chúng. 

Đức Piô XII có liên hệ trực tiếp với các biến cố Fatima vì ngài được thụ phong giám mục cùng ngày với việc khởi đầu của chúng. Nhưng vị giáo hoàng có liên hệ nhiều nhất với chúng phải kể Đức Gioan Phaolô II. Trước nhất, ngày 13 tháng 5 năm 1981, đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 64 Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, ngài bị ám sát ngay tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô. 

Hôm đó, một sát thủ có huấn luyện đã cận kề bắn hai loạt đạn trực tiếp vào Đức Giáo Hoàng. Một viên đạn trượt ngón tay ngài, một viên trúng thân ngài nhưng không trúng động mạch chính ở bụng và cột xương sống cũng như mạch thần kinh chính. 

Wodzimierz Redzioch, tác giả cuốn “Stories about John Paul II. Told by his close friends and co-workers” (Ignatius Press), ngày 13 tháng 5 vừa qua, thuật lại các biến cố diễn ra tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ngày 13 tháng 5 năm 1981 mà chính ông được mục kích. 
Theo ông, lịch trình làm việc của Đức Gioan Phaolô rất xít xao. Hôm đó là ngày ngài chính thức thiết lập Viện Giáo Hoàng Nghiên Cứu Về Hôn Nhân và Gia Đình. Buổi sáng ngài tiếp nhà di truyền học nổi danh người Pháp là Jerome Lejeune và vợ ông ta, sau đó dùng bữa trưa với họ. Buổi chiều, ngài có buổi yết kiến chung thường lệ vào ngày thứ Tư. Khoảng 5 giờ chiều, xe jeep mầu trắng chở Đức Giáo Hoàng xuất hiện tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô… Xe chạy chậm giữa đám đông tín hữu vẫy cờ, vẫy khăn tay. Thỉnh thảng xe dừng lại để Đức Giáo Hoàng ôm hôn trẻ thơ rồi trao lại cho cha mẹ chúng. 

Bỗng nhiên Redzioch thấy bồ câu ở công trường vụt bay đi và sau đó là cảnh hỗn loạn quanh chiếc xe chở Đức Giáo Hoàng; chiếc xe ngay sau đó lùi lại và chạy về hướng lầu chuông. Ông không hiểu chuyện gì xẩy ra, rồi nghe những tiếng thất thanh nổi lên: “Tấn Công! Tấn Công!”. Người thì òa lên khóc, người thì tỏ ý thất vọng hoặc đứng im không một lời nói. Có người qùy xuống cầu nguyện vì nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng đã qua đời. 

Lúc ấy các nhân viên Tòa Thánh đều rút lui hết, công chúng không biết phải làm gì. Linh mục Casimir Przydatek, giám đốc trung tâm dành cho các khách hành hương Ba Lan giật lấy máy vi âm và bắt đầu đọc kinh mân côi: công chúng tham gia cầu nguyện và hát thánh ca. Một trong các món quà được khách hành hương Ba Lan đem tới định tặng Đức Gioan Phaolô II, bức ảnh Đức Mẹ Czestochowa. Cha Casimir đã đặt bức ảnh đó vào chiếc ghế trống của Đức Giáo Hoàng.

Tới phòng báo chí của Tòa Thánh, ông được nghe cha Panciroli đề cập tới khả thể thủng lá lách. Sau đó, xem truyền hình trực tiếp từ Bệnh Viện Gemelli, ông được hay: xe cứu thương đến bệnh viện rất nhanh, nên cuộc giải phẫu đã tiến hành vào lúc 5 giờ 55 chiều, và đã thành công như mọi người đã biết.

Một chi tiết được Redzioch cho biết thêm là trong khi tới tái khám tại Bệnh Viện Gemelli hồi tháng Bẩy, Đức Gioan Phaolô II được trao cho một phong bì trong đó có nguyên văn bản “bí mật thứ ba” của Fatima do chính tay chị Lucia viết. Điều này cho thấy ngài rất lưu tâm tới vấn đề và đã ra chỉ thị cho Đức Hồng Y Joseph Ratzinger viết bài nhận định như trên đã nói. Điều ấy cũng đủ chứng minh sự tương quan giữa việc được cứu thoát khỏi cuộc mưu sát và biến cố Fatima. 

Trước nhiều giải thích khác nhau về biến cố sống sót lạ lùng này, Đức Gioan Phaolô II cho biết: “Một bàn tay bắn, một bàn tay khác hướng dẫn đạn đạo”. Chính sát thủ Mehmet Ali Agca đã nói với Đức Giáo Hoàng, ngày hai người gặp nhau hôm 27 tháng 12 năm 1983 rằng: anh nể sợ “thần nữ Fatima” vì ngài đã che chở Đức Giáo Hoàng tuyệt diệu đến thế. 

Ký giả John L. Allen thì cho rằng biến cố trên có một tầm rất quan trọng đối với triều giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II. Đúng hơn nó là lý do khiến ngài tiếp tục thi hành thừa tác vụ Phêrô dù sức khỏe không còn cho phép ngài làm việc này một cách hữu hiệu theo cái hiểu của con người nữa. 

Theo Allen, Đức Gioan Phaolô II luôn coi thế giới, cả các thăng trầm trong chính cuộc sống của ngài, như là một phần trong vở bi hài kịch của vũ trụ bao la, của cuộc chiến đấu giữa sự thiện và sự ác, và tin chắc rằng các giải thích của trái đất về các thăng trầm ngài gặp không bao giờ làm cạn kiệt các khả thể. 

Như trên đã nói, đối với ngài, chính sự bầu cử của Đức Mẹ Fatima đã cứu sống ngài. Và trong thế giới quan của ngài, việc cứu sống này không những giúp ngài sống còn mà còn giúp cả triều giáo hoàng của ngài sống còn nữa.

Và nếu bạn thành thực tin rằng nếu Đức Mẹ đã cầu bầu để Thiên Chúa “treo chén” các định luật vật lý và giữ bạn tại chức, thì bạn không thể, một buổi sáng thức giấc nào đó, đành lòng mà buông câu: đủ lắm rồi, và bỏ đi. Nói khác đi, Đức Gioan Phaolô đơn giản tin rằng quyết định bỏ đi không phải nằm trong tay ngài. 

Thế giới quan nói trên có thể có liên quan tới biến cố Fatima ở một khía cạnh khác. Đây là nhận định của linh mục Jeff Kirby. Ai cũng biết tên của thị trấn này vốn do người Moors, theo Hồi Giáo, đặt cho, lúc họ chiếm đóng bán đảo Tây Bồ, để vinh danh Fatimah, người con gái yêu qúy của giáo chủ Mohammed, vì chỉ có cô là sinh cho ông các người thừa kế nam nhi sống quá tuổi thơ. 
Họ coi cô là người phụ nữ thánh thiện thứ hai xưa nay của trần gian. Tước hiệu người phụ nữ thánh thiện nhất xưa nay được họ dành cho Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Thành thử, ta có quyền hỏi tại sao Đức Mẹ đã chọn Fatima để hiện ra? Nếu Đức Mẹ đã vượt qua mọi rào cản kỳ thị để hiện ra ở địa điểm ấy, thì rất có thể ngài sẽ một lần nữa vượt qua mọi rào cản để giúp con cái ngài có cơ hội sống hòa bình và hiệp thông với những người hiện bị coi là trở ngại lớn nhất của hoà bình và hiệp thông.

Vũ Văn An

KỶ NIỆM LẦN THỨ 99 ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI FATIMA

Kỷ niệm lần thứ 99 Đức Mẹ hiện ra tại Fatima

fatimamaio2016.jpg
180,000 khách hành hương đã cầu nguyện đặc biệt cho những người tị nạn hôm thứ Sáu 13 tháng 5 tại đền thánh Đức Mẹ Fatima, một thị trấn 130 km về phía bắc của Lisbon, bên Bồ Đào Nha, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ tham dự vào năm tới để kỷ niệm một trăm năm các cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ.
  
Trong bài giảng, Đức Hồng Y Dom Manuel Clemente, Tổng Giám Mục Lisbon và cũng là nhà lănh đạo cao nhất của Giáo Hội Công Giáo Bồ Đào Nha, đã yêu cầu những người hành hương cầu nguyện “cho sức khỏe của các bệnh nhân, niềm ủi an và hy vọng cho những người cô đơn, những người thất nghiệp, và đặc biệt cho những người tị nạn.”

Đích thân Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố hồi năm ngoái khi ngài rước tượng Đức Mẹ Fatima sang Rôma rằng ngài muốn tham gia vào trong cuộc hành hương hàng năm tại Fatima vào năm 2017.

Theo truyền thống Công Giáo, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra cùng ba trẻ mục đồng sáu lần tại Fatima vào năm 1917, lần đầu tiên vào ngày 13 tháng 5.

Vị tiền nhiệm của Đức Thánh Cha Phanxicô là Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 vào năm 2010 đã là vị Giáo Hoàng thứ ba hành hương đến Fatima sau khi Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đến viếng nơi này vào năm 1967. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến viếng đền thánh Đức Mẹ Fatima vào những năm 1982, 1991 và 2000.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặc biệt tôn kính Đức Trinh Nữ Fatima vì ngài xác tín rằng Mẹ Fatima đã cứu ngài thoát chết trong vụ mưu sát vào ngày 13 tháng 5 năm 1981 tại quảng trường Thánh Phêrô.

Thánh Gioan Phaolô II đã từng mơ ước trở thành một linh mục dòng Cát Minh nhặt phép. Lý do duy nhất cản trở ngài không thực hiện được giấc mơ này là vì chủng viện Camêlô ở Czerna, Ba Lan, vào thời điểm đó đã không nhận các tu sinh mới trong thời chiến.

Cậu thanh niên Karol Wojtyla bị mê hoặc bởi các công trình của Thánh Gioan Thánh Giá, và sau này đã viết luận án tiến sĩ của mình về vị thánh vĩ đại này của dòng Cát Minh.

Sự say mê của ngài trước các công trình của Thánh Gioan Thánh Giá một phần đến từ sứ điệp của chị Faustina Kowalska về lòng Chúa thương xót trong bối cảnh đất nước Ba Lan giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Giai đoạn này là một trong những chương bi đát nhất của lịch sử lâu dài và đau thương của đất nước này.

Đức Gioan Phaolô II luôn luôn nhìn thấy thế giới, bao gồm cả những thăng trầm của cuộc sống riêng của mình, như là một phần trong một bộ phim rộng lớn mô tả một cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Ngài xác tín rằng bất kể những thăng trầm của lịch sử, nhờ Lòng Thương Xót Chúa, nhân loại không bao giờ cạn kiệt các khả năng. Niềm xác tín ấy hình thành nên lời khích lệ thường xuyên của ngài với thế giới: “Đừng sợ!”.

Ngày 13 tháng 5 năm 1981, ngày lễ kính Đức Mẹ Fatima, tay súng Thổ Nhĩ Kỳ Mehmet Ali Agca, là người đã bắn chết một nhà báo và một nhà đấu tranh cho nhân quyền người Thổ Nhĩ Kỳ là Abdi Ipekci, đã bắn không chỉ một nhưng đến hai viên đạn ở cự ly rất gần nhưng Đức Mẹ Fatima đã làm chệch đi các đường đạn để cứu sống ngài.


 
(Đặng Tự Do, VCN 14.05.2016)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | JCPenney Coupons