NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG : CÙNG MẸ MARIA BƯỚC ĐI TRONG ĐỨC TIN
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIÁO LÝ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIÁO LÝ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

NHỮNG AI KHÔNG ĐƯỢC RƯỚC LỄ ?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Con đã dự một lễ cưới, mà trong đó linh mục chỉ cho đôi tân hôn Rước lễ mà thôi. Sau đó, con được biết rằng linh mục làm như thế vì ngài lo sợ một cộng đoàn hỗn hợp - một số người có thể là không Công Giáo, hoặc một số người có thể ở trong tình trạng tội trọng - và không muốn liều mình trao Mình Thánh cho các người không xứng đáng như vậy. Tuy nhiên, đã có nhiều tín hữu cảm thấy bị tổn thương và bị xúc phạm khi họ không được Rước lễ. Liệu hành động ấy là có thích hợp về phía linh mục không, thưa cha? - J. S., St. Louis, Missouri, Mỹ. 
Đáp:
 Trong khi vị linh mục đã cho thấy sự tôn trọng đáng quý và tôn kính đối với phép Thánh Thể, tôi không tin rằng cha đã hành động một cách chính xác trong trường hợp này.

Trong các xã hội đa dạng như Mỹ, việc cử hành Thánh lễ cưới và Thánh lễ an táng hầu như luôn có đông người thuộc các sắc tộc và tín ngưỡng khác nhau tham dự. Do đó sự nguy hiểm của một người nào đó Rước Lễ không xứng đáng là có thực.

Nhưng đây không phải là một vấn đề mới, và các giáo xứ khắp nơi đã tìm ra được nhiều giải pháp khả thi.

Trong một số trường hợp, cha xứ hoặc một người khác nói lời thông báo thích hợp, hoặc là trước Thánh Lễ hoặc trước khi Rước lễ. Thông báo này khéo léo giải thích rằng, bởi vì đây là trung tâm của đức tin chúng tôi, việc Rước lễ chỉ được dành riêng cho người Công Giáo trong tình trạng ân sủng mà thôi.

Một cách thức khác là in rõ các điều kiện cho việc Rước lễ, và phân phối cho những người có mặt, hoặc thậm chí kẹp nó vào trong cuốn sách nhỏ, vốn thường được chuẩn bị trong dịp lễ cưới.

Nếu linh mục đã có các bước thích hợp để thông báo cho những người hiện diện về tầm quan trọng của việc Rước lễ trong tình trạng ân sủng, thì trách nhiệm cho một việc Rước lễ không xứng đáng rơi vào lương tâm của người lên Rước lễ.

Nhiệm vụ của linh mục là không có hành động phủ đầu chống lại hành vi có thể xúc phạm đến phép Thánh Thể, bằng cách hạn chế việc cho Rước lễ.

Ngoài ra, linh mục không nên tước đi nơi các tín hữu đang ở trong tình trạng ân sủng cơ hội tham gia đầy đủ vào Hy Tế Thánh Lễ bằng việc Rước lễ. Khi làm như vậy, ngài bất công tước đi nơi họ quyền lợi của mình là người Công Giáo đã rửa tội.

Để kết luận, tôi xin cung cấp một đoạn trích từ một văn bản mẫu được in trong sách hướng dẫn việc tham dự Thánh lễ. Tài liệu rất hữu ích này được công bố bởi Ủy ban Phụng vụ thuộc Hội Đồng Giám Mục Mỹ, với nhan đề “Hướng dẫn việc Rước lễ” (Guidelines for the Reception of Communion).

"Đối với người Công Giáo" Là người Công Giáo, chúng ta tham gia đầy đủ vào việc cử hành Thánh Thể khi chúng ta Rước Mình Thánh Chúa. Chúng ta được khuyến khích Rước lễ sốt sắng và thường xuyên. Để sẵn sàng cho việc Rước lễ, người tham dự ý thức mình không phạm tội trọng, và thường đã nhịn ăn trong một giờ trước đó. Ai biết mình đang có tội trọng thì đừng Rước Mình và Máu Thánh Chúa, trừ phi đã xưng tội trước đó, ngoại trừ một lý do nghiêm trọng là không có cơ hội xưng tội. Trong trường hợp này, người ấy phải ý thức và thực hiện việc ăn năn tội cách trọn, kể cả ý định đi xưng tội càng sớm càng tốt (Giáo luật điều 916). Một việc lãnh bí tích Hòa Giải là được khuyến khích cho mọi người.

"Đối với các Kitô hữu khác" Chúng ta hoan nghênh các Kitô hữu đồng đạo của chúng ta tham dự Thánh lễ như là anh chị em của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện rằng phép rửa chung của chúng ta và tác động của Chúa Thánh Thần trong phép Thánh Thể này sẽ lôi kéo chúng ta gần gũi nhau hơn, và bắt đầu xua tan các chia rẽ buồn sầu, vốn tách rời chúng ta. Chúng ta cầu nguyện rằng các chia rẽ này sẽ giảm bớt và cuối cùng sẽ biến mất, phù hợp với lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho chúng ta là "xin cho tất cả họ được nên một" (Ga 17, 21).

"Bởi vì người Công Giáo tin rằng việc cử hành Thánh Lễ là một dấu hiệu của thực tại của sự hiệp nhất đức tin, đời sống và việc thờ phượng, nên các thành viên của các Giáo Hội này, mà chúng ta chưa hiệp nhất đầy đủ với họ, thường không thể Rước lễ được. Việc Rước lễ trong trường hợp đặc biệt của các Kitô hữu khác đòi hỏi phải có sự cho phép, theo các chỉ thị của Giám mục Giáo phận và các điều của Bộ Giáo luật (Điều 844 § 4). Các thành viên của Giáo Hội Chính Thống, Giáo Hội Assyria phương Đông, và Giáo Hội Công Giáo Quốc gia Ba Lan được yêu cầu tôn trọng kỷ luật của các Giáo Hội riêng của họ. Theo kỷ luật Công Giáo Rôma, Bộ Giáo Luật không phản đối việc Rước lễ của các Kitô hữu thuộc các Giáo Hội này (Điều 844 § 3).

"Đối với những người không Rước lễ" Tất cả những ai không Rước lễ được khuyến khích thể hiện trong tâm hồn của họ sự ước muốn cầu nguyện cho sự kết hiệp với Chúa Giêsu và với nhau.

"Đối với người ngoài Kitô hữu" Chúng ta cũng hoan nghênh việc tham dự Thánh lễ của các người không chia sẻ đức tin của chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô. Trong khi chúng ta không thể chấp nhận cho họ Rước lễ, chúng ta xin họ dâng lời nguyện cho hòa bình và sự thống nhất của gia đình nhân loại".

Hỏi: Liệu sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu vẫn còn trong Mình Thánh, khi một người không tín ngưỡng Rước Mình Thánh ấy không? - Một linh mục, Yangon, Myanmar. 

Đáp: Cần phải có sự phân biệt: sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Mình Thánh bắt nguồn từ việc truyền phép, và không phụ thuộc vào niềm tin cá nhân của người nhận lãnh.

Do đó, sự hiện điện thật sự vẫn ở một thời gian ngắn trong bất kỳ người nào Rước lễ.

Một yếu tố khác là sự gia tăng ơn thánh hóa, vốn đi kèm với việc Rước Lễ. Trong trường hợp này, chỉ có tín hữu đã được rửa tội nhận được lợi ích tinh thần; người chưa được rửa tội thiếu ân sủng ban đầu của ơn thánh hóa, vốn được phát triển bởi các hành vi thánh thiện, như việc Rước Lễ chẳng hạn.

Nếu người không tín ngưỡng Rước lễ với lòng thành của mình, Thiên Chúa có thể tự do ban cho người ấy các hiện sủng đặc biệt tùy theo sự chân thành của các ý định, khi người ấy Rước lễ.

Trong số các ân sủng này, có sự quan tâm đánh thức trong ý nghĩa của cử chỉ ấy cho người Công Giáo, và sự ước muốn hiểu biết thêm về đức tin Kitô giáo nói chung, cuối cùng dẫn đến việc người ấy có thể đón nhận đức tin.

Lẽ tất nhiên, điều này sẽ tùy vào lòng từ bi của Chúa, và một khả năng xa như vậy có thể không bao giờ được sử dụng để coi thường các qui định của Giáo Hội về việc Rước lễ. Theo các qui định này, người chưa rửa tội không được phép Rước lễ.

(Nguyễn Trọng Đa, Zenit.org ngày 12 và 26-9-2006)

NGOÀI Ý LỄ CẦU CHO NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI CÓ THỂ XIN CÁC Ý LỄ KHÁC ?


mass.jpg
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
  
Hỏi: Thưa cha, con muốn biết liệu người ta có thể xin các ý lễ khác ngoài ý cầu cho người chết không; thí dụ, xin Chúa chúc phúc cho một hiệp hội, một việc tông đồ, hoặc vượt qua một cơn trầm cảm, v.v.? - S. L, Rôma, Ý.
Đáp: Câu trả lời ngay lập tức cho câu hỏi này là "được"; linh mục có thể dâng lễ với các ý lễ khác ngoài ý cầu cho người chết. Tuy nhiên, thật là đáng giá để nói rõ thêm vấn đề này.

Bất cứ khi nào Thánh Lễ được cử hành, có ba loại hoa trái phát sinh từ việc cử hành này: ý cầu tổng quát (cho toàn thể Giáo Hội), ý đặc biệt hoặc thừa tác (cho ý của linh mục như là thừa tác viên), và ý cá nhân (cho mỗi tín hữu, bao gồm cả các linh mục, những người tham dự Thánh lễ, mỗi người theo ý của mình).

Ý lễ, mà vì đó linh mục nhận một bổng lễ, không phải là ý riêng của ngài, nhưng là ý của ngài với tư cách là linh mục, nghĩa là thừa tác viên Thánh lễ.

Chắc chắn, khi một linh mục chấp nhận một bổng lễ để cử hành Thánh lễ, ngài cam kết cử hành Thánh lễ theo ý của người xin lễ. Sự công bằng đòi hỏi rằng ngài thực sự cử hành Thánh lễ theo ý đó. Để làm như vậy, ngài phải thực hiện một số hành động của việc cử hành cá nhân, ít nhất thống nhất ý lễ của ngài với ý của người xin lễ.

Ý lễ này là thường cầu cho linh hồn người đã qua đời, nhưng cũng có thể theo ý cá nhân của người còn sống. Trong thực tế, bất kỳ ý tốt lành và thánh thiện nào cũng có thể là đối tượng của một ý xin lễ.

Trong Sách Lễ Rôma, Giáo Hội đưa ra một số thí dụ về các ý lễ ngoài ý cầu cho người chết.

Trước hết, điều này được thực hiện trong các Thánh Lễ nghi lễ, mà trong đó thường ý của chủ tế là dành cho những người được rửa tội, thêm sức, kết hôn, truyền chức, lãnh bí tích bệnh nhân, khấn Dòng, nhận tác vụ.

Thứ đến, có một loạt các ý lễ, được tìm thấy trong các Thánh Lễ cho các nhu cầu khác nhau. Các Thánh Lễ được cử hành cho Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng hay Giám mục địa phương, cho cuộc bầu chọn các vị trong thời Trống Tòa, cho một Công đồng hoặc một Thượng Hội đồng, cho các linh mục và chính linh mục đang cử hành, cho các thừa tác viên, cho ơn gọi, cho giáo dân vào ngày kỷ niệm lễ cưới, cho việc truyền chức hoặc khấn Dòng, cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, cho sự hòa giải, cho các Kitô hữu bị bách hại và cho các kẻ áp bức họ.

Ngoài ra, còn có một loạt các ý dân sự, chẳng hạn cầu cho quốc gia, cho những người giữ chức vụ công cộng, cho thời gieo hạt và thời thu hoạch mùa màng, cho hòa bình và công lý và trong thời chiến. Một số ý lễ nói đến các hiện tượng thiên nhiên như động đất và bão táp.

Một loạt các ý lễ khác là cho việc tha tội, khiết tịnh, từ thiện, người thân, kẻ bị bắt giữ, tù nhân, người bệnh, người sắp chết, cho sự chết lành và cho sự tạ ơn.

Có một công thức Thánh lễ tổng quát gọi là “cầu cho mọi nhu cầu”.

Tôi nghĩ rằng một điều cần đề cập đến là rằng, một linh mục cử hành bất kỳ Thánh Lễ nào được nêu ra trên đây, có thể nhận một bổng lễ cho một ý lễ hoàn toàn khác. Tương tự, một linh mục có thể có một trong các ý trên và không cử hành công thức Thánh lễ thích hợp. Thí dụ, một người có thể xin linh mục cử hành một "Thánh lễ cầu cho ơn gọi" vào một ngày, mà trong đó phụng vụ không cho phép loại cử hành ấy, chẳng hạn vào một ngày Chúa Nhật hoặc trong Mùa Chay.

Điểm tôi muốn làm rõ ở đây là rằng, việc Sách Lễ cung cấp một sự lựa chọn rộng rãi của các công thức chứng minh rằng phạm vi của ý lễ là rất rộng thực sự. Như tôi đã đề cập ở trên, người Công Giáo có thể xin lễ cho bất cứ ý nào đáng xin trong thực tế, hoặc ý tốt lành và thánh thiện. Các thí dụ của Sách Lễ cũng cho thấy các loại ý lễ nào có thể được coi là tốt lành và thánh thiện.

Vì lý do này, có thể có những trường hợp khi một linh mục đã nhẹ nhàng từ chối một ý lễ cụ thể, ngay cả khi ý được xin trong thiện ý, và có thể là đối tượng của lời cầu nguyện cá nhân. Chẳng hạn, việc xin lễ cho một đội bóng mình yêu thích được thắng giải đấu là một ví dụ. Người ta có thể tưởng tượng tình huống khó xử, nếu linh mục ấy cũng được một người khác xin lễ cầu cho đội bóng đối thủ của đội bóng trên được thắng giải.

(Nguyễn Trọng Đa, Zenit.org 15-3-2016)

CÓ CẦN XIN LỄ CHO LINH HỒN THAI NHI VÀ CÁC LINH HỒN MỒ CÔI KHÔNG ?

thainhi.jpg
Hỏi : Xin cha giải đáp ba thắc mắc sau đây : 1.Có cần xin lễ cầu cho các thai nhi bị giết vì phá thai không ? 2.Có cần xin lễ cầu cho các linh hồn mồ côi không ? 3.Có cần xin lễ đời đời để cầu cho ai không ?

  
Trả lời : 
1. Về việc cầu nguyện cho các thai nhi
 :
Các thai nhi là những bào thai đã bị giết trong lòng mẹ vì phá  thai ( abortion)

Đây là một tội ác phạm đến điều răn thứ Năm cấm giết người của Thiên Chúa đã truyền cho con người phải tuân giữ từ thời Cựu Ước cho đến nay.

Sự sống là quà tặng linh thánh ( sacred gift) Thiên Chúa ban cho những người được mời sống ơn gọi gia đình để cộng tác với Chúa trong Chương Trình sáng tạo, tức là làm cho có thêm nhiều người trên trần thế này, như Chúa đã truyền cho Adam và Eva xưa kia. Lênh truyền đó như sau:
  
hãy sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” ( St  1:28) 
Để thi hành mệnh lệnh trên của Thiên Chúa, tuyệt đối cấm sát sinh vì bất cứ lý do gì. Phải tôn trọng sự sống từ khi được thụ thai ( conception) cho đến cái chết tự nhiên ( natural death) trên giường bệnh. Do đó, phá thai là giết chết một sự sống, dù mới được hình thành trong lòng mẹ một hai tháng hay tám chín tháng.Đây là một tội ác phạm đến Thiên Chúa là Nguồn mạch sự sống của con người và mọi sinh vật trên trần thế này.

Vì thế, ai phạm tội phá thai hay giúp người khác phá thai có kết quả thì lập tức bị vạ tuyệt thông tiền kết ( x giáo luật số 1398) dành cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ mà thôi. Nhưng đặc biệt trong Năm Thánh lòng thương xót đang diễn ra trong Giáo Hội cho đến ngày 20 tháng 11 năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cho phép các linh muc trong toàn Giáo Hội được tha tội này cho các  hối nhân để giúp họ nhận lại tình thương của Chúa, sau  khi đã lỡ đánh mất vì phạm tội phá thai.

Riêng đối với các thai nhi bị giết, thì chắc chắn các thai nhi này hoàn toàn vô tội vì chưa được sinh ra , lớn lên và có thể phạm tội được. Tuy nhiên, chúng vẫn  phải  chịu hậu quả của tội  nguyên tổ do  Adam và Eva để lai, nhưng không được rửa tội để tẩy xóa hậu quả này  thì đó hoàn toàn không phải lỗi của chúng. Đó là  lỗi của  kẻ đã giết chúng, không cho chúng cơ hội được  sinh ra để được rửa tội. Vì  không phải là  lỗi của chúng, nên chắc chắn Chúa cũng không thể bắt lỗi các thai nhi bị giết về sự thiếu sót  ngoài ý muốn này .

Vả lại, xin lễ chỉ có giá trị xin tha các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment ) cho các linh hồn đang còn được thanh lọc trong Luyên Tội ( Purgatory) chứ không có giá trị tha tội Tổ Tông và các tội cá nhân cho người còn sống hay đã qua đời.. Như vậy,  càng không có lý do để xin lễ cầu cho các thai nhi.

Các thai nhi bị giết oan uổng này chắc chắn vẫn được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.  Cho nên, ta không  cần phải  lo cho phần rỗi của chúng , để phải xin lễ cầu cho chúng,  như nhiều người không am hiểu đang làm. Tôi quả quyết là các thai nhi bị giết oan uổng nên  được Chúa thương xót  nhiều hơn để đón nhận vào chốn an nghỉ đời đời với Người. Kẻ có tội là những ai đã xin phá thai hay giúp người khác phá thai có kết quả. Các thai  nhi là những nạn nhân đáng thương của những  kẻ  vô tâm ,vô luân đã giết hại chúng, khiến chúng không có cợ hội được sinh ra làm con người trên trần thế này.. Như thế, không cần phải xin lễ cầu cho chúng.

Các linh mục có bổn phận giải thích cho giáo dân để đừng nhận tiền xin lễ cầu cho các thai nhi như người ta đã và đang  làm ở nhiều nơi.Thực hành này hoàn toàn không hợp lý xét theo đức tin, giáo lý và thần học  của Giáo Hội.
2. Có linh hồn nào mồ côi không
 ?
Khi nói linh hồn mồ côi là nói theo suy nghĩ của người đời. Tức là nói đến các linh hồn không  có thân nhân còn sống để cầu cho người thân đã mất.

Nhưng thực tế là Giáo Hội vẫn cầu xin cho mọi tín hữu đã ly trần trong mọi Thánh Lễ, dù không có ai xin lễ cầu cho các linh hồn này.

  Sau  đây là bằng cớ cụ thể :

Trong các Kinh Nguyện Tạ Ơn ( Thánh Thể) I, II, III,và IV đọc trong Thánh Lễ, Giáo Hội hằng ngày cầu chung cho các tin hữu đã ly trần như sau:

   “ Xin Chúa cũng nhớ  đến  anh  chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã y trần trong tình thương của Chúa’
Xin cho hết thẩy được vào hưởng ánh sáng tôn nhân Chúa
…” ( KNTT II) 
Dù không có ai xin lễ, thì linh mục vẫn đọc lời cầu xin trên đây để cầu cho tất cả mọi tín hữu đã ly trần, tuy  không có ai xin lễ cầu cho họ..

Nếu có ai xin lễ cầu cho linh hồn nào,  thì có thêm lời nguyện riêng như sau:

  “ Xin nhớ đến tôi tớ Chúa là …. mà ( hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa  thì cũng được sống lại như Người.”

Như thế rõ ràng cho thấy là Giáo Hội không chỉ cầu nguyện riêng cho những linh hồn có thân nhân còn sống xin lễ cầu cho, mà còn cầu nguyện chung cho hết mọi tín hữu đã ly trần trong đó có những linh hồn không có thân nhân còn sống  xin lễ cầu cho.Nghĩa là không có linh hồn nào được coi là “ mồ côi” vì không có ai cầu nguyện cho  cả.

Tóm lại, ai có lòng tốt xin lễ cầu cho các linh hồn đã ly trần thì đó là việc bác ái đáng khuyến khích. Nhưng  đừng nói xin cầu cho các “linh hồn mồ côi”, vì thật ra không có linh hồn nào bị coi là mồ côi đúng nghĩa  trong kinh nguyện của Giáo Hội
3. Về việc xin lễ đời đời
 :
Vấn đề này tôi đã đôi lần nói đến. Nay xin được nhắc lại như sau:

Trước hết, từ ngừ “đời đời” (eternal)  được dùng trong Giáo Hội để chỉ:
a. trước hết tình trạng ơn phúc vĩnh cửu với Chúa trên Thiên Đàng

b. hay phải xa cách Chúa vĩnh viễn trong nơi gọi là hỏa ngục (hell). 

. Các linh hồn đang được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng , thì không cần ai cầu nguyện cho nữa. Ngược lại, linh hồn  nào đã xa lìa Chúa vĩnh viễn trong hỏa ngục thì không ai có thể  làm gì để cứu giúp được nữa, vì không có sự hiệp thông nào giữa các Thánh ở trên trời, hay giữa  các tín hữu còn sống trên trần gian với các người đã xa lìa Chúa trong hỏa ngục. (x SGLGHCG số 954-55, 1033).

Như vậy xin lễ đời đời để cầu cho ai ?

Không cần cầu cho các Thánh ở trên Thiên Đàng mà cũng không thể giúp ích gì cho các linh hồn trong hỏa ngục như đã nói ở trên.Chỉ còn các linh hồn trong Luyện tội mới cần được giúp đỡ của các Thánh  trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống  trên trần gian mà thôi.

Nhưng các linh hồn  này  chỉ ở Luyện tội  có thời hạn thôi,  chứ  không ở đây vĩnh viễn  đời đời , như những người đã xa lìa Chúa trong  hỏa ngục.

Như vậy,  không cần phải  xin lễ đời đời cầu cho các linh hồn trong Luyện Tội vì không ai phải ở đây đời đời như các người trong chốn hỏa ngục.

Vả lại, ai có thể sống đời đời trên trần gian này để dâng lễ đời đời cho người khác ? Nhà Dòng nào , linh mục nào có thể  “ sống đời đời” để dâng lễ đời đời cho ai để hưởng bổng lễ cao của người xin Lễ ???

Như thế, rõ ràng đây  là việc làm  lừa dối  và sai lạc giáo lý chỉ vì mục đích  kiếm tiền mà thôi. Không ai ngăn cấm hay giới hạn việc xin lễ cầu cho các linh hồn đã ly trần. Nhưng không thể đặt ra cái gọi là “lễ đời đời” với bổng lễ cao ( có nơi đòi 20,000 hay  30,000 dollars )   của người giáo dân không am hiểu giáo lý của Giáo Hội về việc cầu cho người đã ly trần. Bao lâu con cháu hay thân nhân của người quá cố còn sống, thì cứ cầu nguyện và xin lế cầu cho thân nhân đã ly trần, vì không ai biết được linh hồn nào  đã được vào Thiên Đàng rồi  hay đã xa lìa Chúa trong hỏa ngục, hoặc đang còn phải thanh lọc trong Luyện Tội. Do đó, cứ xin lễ cầu cho các người đã ly trần, nhưng không thể  xin lễ đời đời để cầu cho các linh hồn nơi luyện tội,  vì các linh hồn không ở đây đời đời mà chỉ ở có thời hạn theo sự công bằng Chúa đòi hỏi mà thôi.

Cũng liên quan việc xin lễ cầu cho người quá cố, phải nói rõ môt lần nữa là  tiền bạc không bao giờ có thể mua được Nước Thiên Đàng cho ai.Chúa không bao giờ luận phạt hay ban phúc cho ai vì có người đã bỏ ra nhiều tiền để xin lễ hay dâng cúng vào nhà thờ, nhà Dòng ... Tiền xin lễ  chỉ giúp ích cho các  linh mục dâng lễ,  chứ không ảnh hưởng gì đến việc phán xét của Chúa cho một hay nhiều linh hồn. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai lầm tưởng là bỏ nhiều tiền ra xin lễ, xin cầu nguyện thì được ích lợi thiêng liêng nhiều  hơn người nghèo không có tiền xin lễ.

Nếu một người, khi còn sống đã thực tâm yêu mến Chúa, yêu thương tha nhân, thực thi công bằng, bác ái và đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, thì dù không có ai cầu nguyện cho, thì cũng không thiệt thòi gì về phần rỗi.Ngược lại, một người đã bỏ quên Chúa  để  chạy theo những quyến rũ của thế gian và ma quỷ và không biết ăn năn sám hối trước khi chết, thì dù cỏ ai bỏ ra hàng triệu đô la xin lễ cầu cho thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Như thế, ai gây cho người khác ngộ nhận là bỏ ra nhiều tiền xin lễ, xin cầu nguyện thì linh hồn được mau vào hưởng Thánh Nhan Chúa,  hơn là không có tiền xin lễ. Gây ngộ nhận như vậy, để lấy nhiều tiền xin lễ của giáo dân   là phạm tội “mại thánh=simonia” theo giáo lý và giáo luật của Giáo Hội.( x. Giáo luật số 1380) .

Tội mại thánh là  tội vô tình hay cố ý lấy tiền của ai để  ban một bí  tích hay dâng lễ cầu cho ai.( giáo luật trên đây). Do đó, linh mục không được phép đòi tiền ai để rửa tội, giải tội, sức dầu hay  chứng hôn phối, hoặc cử hành lễ nghi an táng.

Nhưng nếu thân nhân  người nhận các bí tích hay thánh vụ nói trên tự ý  tặng tiền cho, thì  được phép nhận. Lại nữa,  linh mục chỉ được phép nhận bổng lễ ( mass stipend) theo qui định của giáo quyền địa phương, ( ở Tông Giáo Phận Galveston-Houston, tiền xin lễ qui định là 5 dollars mỗi thánh lễ)  chứ không được phép đòi bổng lễ cao hơn mức qui định, hay từ chối dâng lễ vì có bổng lễ thấp. Thêm nữa, nếu người xin lễ không có tiền xin lễ,  thì linh mục vẫn được mong đợi dâng lễ cho người ta, dù không có bổng lễ ( tiền xin lễ) ( x. giáo luật số 945&2)

Tóm lại, linh mục không  được  lợi dụng thánh chức của mình để làm tiền ai trong bất cứ trường  hợp nào.Ai vi phạm thì bị coi là phạm tội mại thánh, vì đã biến việc phục vụ  thiêng liêng của mình thành hoạt động thương mại trần thế.

Ước mong  những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

TÌM HIỂU VẤN ĐỀ BỔNG LỄ

giotien.jpgBình thường theo giáo luật:
  
- Các tư tế cử hành hay đồng tế thánh lễ được phép nhận bổng lễ để áp dụng theo một ý chỉ (Gl 945)
- Mỗi ý chỉ được áp dụng cho một thánh lễ cho dù bổng lễ bé nhỏ (Gl 948)
- Nếu người xin lễ dâng một món tiền và không nói rõ số lễ, thì số tiền ấy phải được chia theo mức giá bổng lễ hiện tại ở nơi người xin lễ cư trú. Trừ khi có lý do phỏng đoán hợp lệ là người dâng có hảo ý khác (Gl 950).
Giá bổng hiện tại ở nơi người xin
:
Ví dụ, một linh mục từ VN qua Mỹ mà có một người tới đưa 50 Đôla và xin cha làm lễ. Bình thường thì vị linh mục phải dâng 10 lễ vì giá bổng lễ ở Mỹ được quy định là 5 Đôla (?). Nếu một Việt Kiều về VN đến đưa cho một linh mục 50 Đôla và xin cha làm lễ, thì vị linh mục chỉ dâng 5 lễ, vì giá quy định ở VN trung bình là 10 Đôla (có một cha xứ khẳng định rằng Đức Tổng Giám Mục Grigelli nói ở Tp HCM là 10 Euro; Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích, DCCT, trả lời vấn đề này trên “Tập Báo Mẹ Hiền” tháng 8 năm 2013 rằng: Tòa Giám Mục TP. HCM ấn định bổng lễ trong giáo phận là 250.000đ).

Lý do phỏng đoán hợp lệ: 

Nghĩa là vị linh mục có đủ lý do tin rằng người dâng, ngoài việc xin lễ cầu nguyện thì còn có hảo ý khác như muốn giúp đỡ hay dâng tặng cho vị linh mục. Chẳng hạn, một linh mục VN sang Mỹ đi quyên góp tài chánh để xây nhà thờ, có người gửi dâng 100 Đôla và kèm theo lời xin lễ cầu bình an cho gia đình nhưng không nói rõ số lễ, thì vị linh mục có thể dâng một lễ và suy đoán rằng số tiền này là người dâng có hảo ý giúp mình trong việc xây nhà thờ. Hoặc có một ân nhân đến dâng 1 triệu đồng và xin lễ cầu bình an, vị ân nhân này thỉnh thoảng đến tặng biếu cho vị linh mục một vài triệu đồng, thì vị linh mục có thể suy đoán chắc rằng người dâng có hảo ý giúp mình nên chỉ cần làm 1 ý lễ và không cần phải chia 1 triệu đó theo mức giá bổng lễ hiện tại là mỗi ý lễ là 200.000đ (hoặc 250.000đ). Cũng vậy, trong trường hợp một linh mục đến đồng tế lễ an táng, hay lễ cưới, hoặc đi làm phép nhà… sau thánh lễ hay làm phép nhà, người nhà đưa một phong bì và xin cầu nguyện thì suy đoán hợp lý rằng người ấy muốn tặng món tiền đó cho vị linh mục.

Gửi bổng lễ khác về Đấng Bản Quyền

Trừ ngày lễ Giáng Sinh, mỗi ngày tư tế chỉ được hưởng một bổng lễ. Những bổng lễ khác (binates or trinates etc.) phải nhường về các mục đích do đấng bản quyền quy định. Tuy nhiên linh mục được nhận một phần bổng lễ đó cho những chi phí ngoại tại (Gl 951 #1).

Các bổng lễ khác (binates or trinates etc.) gửi về đấng bản quyền của tư tế, nghĩa là các linh mục triều gửi các bổng lễ khác về cho Giám mục hoặc đấng bản quyền địa phương của họ, còn các tu sỹ linh mục (linh mục dòng) gửi về cho bề trên cao cấp của họ. Tuy nhiên, tất cả các cha xứ dù là linh mục triều hay dòng đều buộc gửi về Giám mục địa phận các bổng lễ khác mà họ nhận được qua chính giáo xứ.

Tuy vậy, một linh mục dòng mà là cha chính xứ hoặc quản nhiệm xứ và linh mục cử hành thánh lễ hai hay ba mà các bổng lễ khác vị linh mục này nhận được từ chính dòng tu của mình thì các bổng lễ khác đó được gửi cho bề trên cao cấp của họ. Bởi vì ý của người xin là muốn giúp đỡ tu viện.

Ngoài ra, một linh mục viếng thăm (vãng lại) được trao quyền làm lễ ở giáo xứ thì các bổng lễ khác (binates or trinates) được gửi về cho chính đấng bản quyền của linh mục ấy – bề trên cao cấp. Ví dụ, một linh mục SJ của tỉnh dòng VN không phải là cha xứ (giáo xứ Hiển Linh) ra làm lễ ở giáo xứ (Hiển Linh hay ở bất cứ một giáo xứ nào) thì các bổng lễ khác được gửi về cho đấng bản quyền của linh mục SJ đó – cha Giám Tỉnh. Trong trường hợp một linh mục triều thuộc địa phận (Hà Nội,…) đến làm lễ ở giáo xứ Hiển Linh thì bổng lễ khác được gửi về cho Giám mục địa phận (Hà Nội,…).


(Xem John P. Beal, James A. Coriden, Thomas J. Green, New Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P. 1133)[1].

Nếu một linh mục đã cử hành hay đồng tế một thánh lễ, thì thánh lễ đồng tế thứ hai trong ngày vị linh mục không có quyền nhận bổng lễ nữa dưới bất cứ danh nghĩa nào (X. Gl 951 #1). Việc đồng tế này cho dù trước hay sau thánh lễ khác được cử hành. Nghĩa là nếu buổi sáng linh mục đồng tế thánh lễ và buổi chiều cử hành thánh lễ, thì linh mục chỉ được nhận bổng lễ thánh lễ ban chiều.

Trong trường hợp vị linh mục nghĩ là ngày hôm đó chỉ đồng tế thánh lễ ban sáng nên đã nhận bổng lễ, nhưng ban chiều vì một lý do cần thiết phải cử hành thánh lễ nữa thì được nhận bổng lễ cho mỗi thánh lễ, và linh mục giữ một bổng lễ cho mình, bổng lễ còn lại áp dụng nguyên tắc “binates” gửi về đấng bản quyền theo qui định.

Hưởng một phần bổng lễ khác
:
Ở một số địa phận đấng bản quyền quy định tư tế được nhận một phần hai hay hai phần ba (hoặc một bổng lễ nữa nếu thánh lễ thứ hai là lễ gộp) bổng lễ từ thánh lễ thứ hai. Lý do vì linh mục phải bỏ công sức và những chi phí như đi lại, ăn uống,… cho thánh lễ thứ hai.

Gộp các ý lễ[2]

Theo giáo luật, mỗi ý lễ được áp dụng cho một thánh lễ (x. Gl 948). Tuy nhiên trong thực tế, trong các thánh lễ, đặc biệt là thánh lễ ngày Chúa nhật có nhiều người xin lễ và ai cũng sẵn sàng và muốn linh mục chủ tế ngày hôm đó làm lễ theo ý họ xin để họ cùng tham dự và cầu nguyện. Vậy phải giải quyết vấn đề này thế nào?

Dự trù tình huống này, Giáo luật nói “Nếu tại những nhà thờ hay nhà nguyện người ta xin cử hành lễ quá số có thể cử hành ở đó, thì có thể cử hành ở nơi khác, trừ khi những người xin lễ minh thị bày tỏ ý định ngược lại” (Gl 954).

Ngày 22/01/1991, Bộ Giáo Sỹ ban hành một Sắc lệnh[3] hướng dẫn và cho phép các linh mục gộp các ý lễ với các điều kiện sau :

(1) Phải cho người xin lễ biết và được họ đồng ý là lễ họ xin được dâng chung với một ý lễ khác.

(2) Thời gian và nơi chốn dâng lễ gộp phải được công bố.

(3) Không được gộp hơn hai lần trong một tuần.

(4) Linh mục cử hành có thể giữ một bổng lễ và phải gửi về bản quyền của mình những bổng lễ khác theo giáo luật điều 951 triệt 1.

Như vậy, các linh mục được gộp ý lễ 2 lần mỗi tuần miễn là đáp ứng đủ các điều kiện trên.

Thiết tưởng cũng nên hiểu rằng, theo giáo luật điều 954 và sắc lệnh của Bộ Giáo Sỹ cho phép cử hành thánh lễ gộp các ý lễ thì tất cả các ý lễ gộp đã được làm trong thánh lễ đó và sẽ không phải làm lại. Bởi có một số linh mục sau khi cử thánh lễ gộp các ý lễ xong, lại lấy các ý lễ đã gộp đó làm lại mỗi ngày một ý lễ hoặc đem các ý lễ đó gửi cho linh mục khác làm. Theo quy định trên, vị linh mục sau khi đã cử hành thánh lễ gộp các ý lễ, chỉ giữ cho mình 1 bổng lễ, còn các bổng lễ khác được gửi về đấng bản quyền theo quy định như đã trình bày ở trên.

Phêrô Nguyễn Đức Trí, SJ
-------------

[1]
The other offerings go to his ordinary, namely, the local ordinary for the diocesan clergy and the major superior for members of clerical religious institutes and societies of apostolic life. All pastors and parochial vicars, not just diocesan priests, are bound to send the offering for additional Masses celebrated each day to the local ordinary. This rule applies only to parish Masses for which offerings have been received through the parish. Thus, a religious priest who is pastor or parochial vicar and who binates with an offering received from the sacristan of his own religious institute should send that offering to his own ordinary, not to the local ordinary, since the intention of the donor was to benefit the institute, not the diocese. Moreover, a visiting priest in the parish is entitled to all offerings for the Masses he celebrates, including binations and trinations, which he then sends to his own ordinary, not the local ordinary, unless they are the same (John P. Beal, James A. Coriden, Thomas J. Green, New Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P. 1133.
[2]In 1991 the Congregation for the Clergy derogated from this canon to permit priests to accept several offerings for a "collective intention" at a single Mass. The following regulations must be observed if this practice is followed:
(1)    the donors must be informed of and consent to the combining of their offerings before the Mass for the collective intention is celebrated;
(2)    the place and time for the Mass must be announced;
(3)    the practice may not be observed more than twice a week;
(4)    the celebrant may keep for himself no more than the usual amount of a single Mass offering and must send any excess to his ordinary in keeping with canon 951, § 1.
(See John P. Beal, James A. Coriden, Thomas J. Green, New Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P. 1132)
[3]  Xem AAS 83 (1991) 443-446, BCL Newsletter 27 (1991)

VẤN ĐỀ :QUỶ NHẬP- TRỪ TÀ VÀ TÌM HÀI CỐT CÓ NHÀ NGOẠI CẢM CAN THIỆP


Exorcism.jpgQUAN ĐIỂM CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO về Vấn đề quỷ nhập - trừ tà, Việc tìm hài cốt khi có sự can thiệp của các nhà “ngoại cảm”, Hiện tượng nhập hồn, gọi hồn & bùa ngải, thư ếm
  

I. VẤN ĐỀ MA QUỶ

1. Sự hiện hữu của ma quỷ 


     1.1. Thánh Kinh 

- Ngay trong từ thời khởi nguyên, ma quỷ đã hiện hữu dưới hình ảnh con rắn để cám dỗ ông bà nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa (x. St 2, 16-17). “Ma quỷ phạm tội ngay từ lúc khởi đầu” (1Ga 3,8); “nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).

- Satan (Tiếng Hebrew: sătan, địch thủ) hoặc quỷ (Tiếng Hy Lạp: dabolos, kẻ vu khống): Kinh Thánh dùng cả hai tên đó để chỉ một nhân vật tự bản chất là vô hình nhưng hành động hay ảnh hưởng được biểu lộ trong hoạt động của kẻ khác (quỷ hay thần ô uế) hoặc trong cơn cám dỗ. Kinh Thánh rất dè dặt, chỉ nhằm cho chúng ta biết có nhân vật đó và các mưu mô của hắn cũng như các phương thế để chống lại các mưu mô đó (x. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh). 

     1.2. Sách GLCG 

- Ma quỷ, hay còn gọi là satan, hay các thần dữ là những thiên thần sa ngã, tự chúng đã làm cho mình trở nên ác và nên xấu vì khước từ dứt khoát phục vụ Chúa và kế hoạch của Người (x. GLCG 391, 414). 

2. Công việc của ma quỷ 

- Satan hay quỷ luôn tìm cách dụ dỗ con người chống lại Thiên Chúa (x. St 3,5; 1 Ga 3,8; Ga 8,44), do ghen tương, nó cũng đã ra sức làm cho Chúa Giêsu đi lệch hướng khỏi sứ vụ của Người (x. Mt 4,1-11)

- Trong các hậu quả của các việc làm của quỷ, nghiêm trọng nhất là sự quyến rũ dối trá dẫn con người đến chỗ bất tuân Thiên Chúa (x. GLCG 398). 

3. Quyền lực của ma quỷ 

- Ma quỷ tuy quyền năng, nhưng quyền năng đó không vô hạn vì chỉ là loại thụ tạo, nên không thể ngăn chận công trình xây dựng và cứu độ của Thiên Chúa (x. GLCG 395).

- Hoạt động của satan được cho phép bởi Thiên Chúa quan phòng. Việc này là một mầu nhiệm lớn lao, nhưng chúng ta phải vững niềm tin, và biết rằng: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). 

4. Chúa Giêsu và quyền thống trị của Người trên ma quỷ 

- Chúa Giêsu toàn thắng ma quỷ, nhờ sự vâng phục tuyệt đối trong tình con thảo của Người với Thiên Chúa Cha (x. Mc 3, 27, Mt 12, 28, Lc 8, 26-39, GLCG 539. 550)

- “Các Kitô hữu tin rằng trần gian này đã được dựng nên và bảo tồn với tình yêu của Đấng Tạo Hóa, quả thật nó đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi, nhưng đã được giải thoát bỏi Đức Kitô, Đấng chịu đóng đinh và phục sinh để đập ta quyền lực tử thần.” (GLCG 421, trích Gaudium et Spes s.2).

- Chúa Giêsu cho các môn đệ tham dự vào thừa tác vụ chữa lành của Người: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ…” (GLCG 1506, trích Mc 6,12-13; Mt 10,1.8; Lc 9,1). 

5. Các cuộc trừ tà để xua đuổi ma quỷ 
     5.1. Định nghĩa trừ tà (x. GLCG 1673) 

Khi Hội Thánh, một cách công khai và có thẩm quyền, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cầu xin để một người hay một đồ vật được Thiên Chúa bảo vệ khỏi ảnh hưởng của Ác thần và giải thoát khỏi ách thống trị của nó, thì gọi đó là Trừ tà (exorcismus).
 
     5.2. Các hình thức trừ tà 

- Hình thức đơn giản, việc trừ tà đã có trong nghi thức cử hành BTRT.


- Còn việc trừ tà long trọng, gọi là “trừ tà đại thể” chỉ được thực hiện bởi một linh mục, với sự cho phép của Giám Mục. Trong việc này, phải tiến hành cách khôn ngoan, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Hội Thánh.

     5.3. Giáo luật điều 1172 

§1. Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng bản Quyền địa phương. 
§2. Đấng Bản Quyền địa phương chỉ ban phép trừ tà cho một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan, và có đời sống vẹn toàn.
 
     5.4. Lưu ý 

- Việc trừ tà nhằm trục xuất ma quỷ hoặc giải thoát khỏi ảnh hưởng của nó, nhờ quyền bính thiêng liêng Chúa Giêsu đã ủy thác cho Hội Thánh của Người. Trường hợp bệnh tật, nhất là các bệnh tâm thần, thì việc chữa trị là công việc của y khoa. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là trước khi cử hành nghi thức trừ tà, phải rất chắc chắn đây là trường hợp quỷ ám chứ không phải là một bệnh tật nào đó.

- Theo bác sĩ Hélot trong cuốn Névroses et Possessions, Le diagnostic (Bệnh thác loạn thần kinh và chứng quỷ nhập, Cách chẩn đoán), thì có thể nghi ngờ về sự hiện diện của ma quỷ nếu có những dấu hiệu sau đây:

* Bệnh nhân bị co giật, khiến ta có thể nhận ra có một trí tuệ khác với trí tuệ của bệnh nhân, và có lúc bệnh nhân bình thường, có lúc bất thường xen kẽ nhau. 
* Bệnh nhân có những cử động dị thường kéo dài như: nhảy, múa, mất thăng bằng, bò lê dưới đất, đập phá, đau đớn, té ngã mà không có nguyên nhân rõ rệt, vặn cổ, vặn gáy....

* Bệnh nhân có những biến chứng, đau đớn không chịu nổi, đột nhiên được chữa lành bằng nước thánh, bằng dấu thánh giá, bằng Mình Thánh Chúa,... 
* Bệnh nhân đột nhiên bị mất cảm giác, giác quan và cảm tính, và có thể lấy lại được trong chốc lát nhờ cầu nguyện.

* Bệnh nhân kêu la giống như thú vật, bị buộc phải tru tréo lên một cách vô ý thức, nghĩa là sau đó bệnh nhân không còn nhớ gì nữa.

* Khi nhìn một người bình thường, bệnh nhân lại thấy người đó dị thường, hay thấy người đó là quỷ.

* Bệnh nhân tự nhiên nổi giận khi thấy những vật dụng đã được làm phép, hay khi thấy một linh mục, hay khi đi ngang qua một nhà thờ mà thấy người ta muốn vào.

* Bệnh nhân không thể ăn uống hay gìn giữ được những đồ ăn thức uống đã được làm phép.

- Và đây là những dấu hiệu xác nhận:

* Bệnh nhân nói tiếng lạ, hay hiểu được người nói tiếng đó.

* Bệnh nhân nói cho biết những chuyện ở xa hay còn trong vòng bí mật. 

* Bệnh nhân biểu lộ những khả năng vượt quá tuổi tác hay vượt quá điều kiện của mình, như lơ lửng trên không mà không bám hay dựa vào đâu cả, đi lộn ngược đầu trên vòm nhà hay trần nhà, vẫn khư khư bất động bất chấp những nỗ lực đẩy hay kéo của những người mạnh hơn hợp lại...

     5.5. Nghi thức trừ tà 
- Hiện nay chưa thấy có một bản nghi thức trừ tà chính thức nào tại Việt Nam, Chỉ có công thức trừ tà trong Nghi Thức Rửa Tội.

- Đề nghị Ủy Ban Phượng Tự dịch sách Nghi thức trừ tà để dùng thống nhất trong GH tại VN. 

     5.6. Tóm lại 

- Theo giáo huấn Giáo Hội trình bày trên, cũng như theo LM chính thức giữ chức trừ quỷ ở Roma thì có ba điều cần nhớ:

* có ma quỷ, hiện tượng ma quỷ là có thật

* ma quỷ có nhiều khả năng phi thường, và ma quỷ có thể gây ảnh hưởng trên con người, kể cả thân xác, như: quấy, phá, hành, hại, ám và nhập.

* Chúa mạnh hơn ma quỷ, nên ta cần giữ lòng tin. Không nên nhờ ma quỷ bảo vệ mình.

- Ngoài ra để ngăn chặn sự tấn công của ma quỷ, cần giữ mình sạch tội trọng và năng lãnh các bí tích. Hơn nữa nên tuyệt đối tránh mọi hình thức tiếp xúc với ma quỷ. 
II. VẤN ĐỂ NGOẠI CẢM 
1. Định nghĩa 
(theo trungtâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương) 
- Ngoại cảm là một khả năng đặc biệt của con người. Người có khả năng ngoại cảm không sử dụng những giác quan bình thường, mà khả năng cảm nhận bằng giác quan thứ sáu rõ ràng và liên tục hơn những người thường, như khả năng nói chuyện với người chết, khả năng theo dõi con người, tiên đoán tương lai, biết được quá khứ của một thực thể nào đó v.v…

- Thực ra, khả năng ngoại cảm của con người được biết đến từ thời xa xưa. Các nước trên thế giới, từ lâu, đã nghiên cứu và ứng dụng ngoại cảm vào nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có cả quân sự. Đối với các bậc chân sư Phật giáo, khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm là chuyện bình thường, không có gì xa lạ cả. Những thiền sư, nhờ tu tập thiền định mà thành tựu Tam minh và Lục thông.

- Trong khi đó, khả năng của các “nhà ngoại cảm” hiện nay có thể xem như là một phần nhỏ của Thiên nhãn thông (năng lực thấy rõ mọi thứ, không ngăn ngại), Thiên nhĩ thông (năng lực nghe được tất cả các dạng âm thanh) và Tha tâm thông (năng lực biết được tâm ý của người khác). 

2. Phân loại 
(theo trungtâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương) 
- Theo nguyên nhân, nguồn cơn:

* Ngoại cảm bẩm sinh: Tức là sinh ra đã có khả năng ngoại cảm.
* Ngoại cảm hình thành sau khi phải trải qua một biến cố ngoại cảnh : chấn thương, bệnh tật...
* Ngoại cảm có do rèn luyện theo những phương pháp đặc biệt.

- Theo tính chất, công năng:

* Thần giao cách cảm (telepathy): khả năng giao lưu ý nghĩ giữa những người không giao tiếp với nhau, không nhìn thấy nhau.
* Tiên tri (precognition): khả năng biết trước các việc xảy ra trong tương lai.
* Thấu thị (clairvoyance): khả năng nhìn thấy các vật ngoài tầm mắt hay bị che khuất.
* Tâm vận (psychokinesis): khả năng dùng năng lực tâm linh để di chuyển các vật thể.

3. Hiện trạng “ngoại cảm và việc tìm hài cốt”

Hiện nay, các “nhà ngoại cảm” thường tìm kiếm hài cốt theo hai hướng:


- Khuynh hướng thứ nhất là các nhà ngoại cảm “thấy” được hài cốt, vẽ lại sơ đồ chi tiết khu vực ấy và hướng dẫn thân nhân tìm kiếm. Trường hợp này nhà ngoại cảm chỉ sử dụng khả năng “thiên nhãn thông” của mình để tìm kiếm và phát hiện hài cốt mà không cần trợ giúp của “chủ nhân” chính hài cốt ấy. Tuy nhiên, vì nhà ngoại cảm “thấy khi mờ khi tỏ”, nên có thể phải điều chỉnh nhiều lần mới tìm ra vị trí chính xác của hài cốt.

- Khuynh hướng thứ hai thì ngược lại, có những người tự xưng mình là “nhà ngoại cảm”, có thể tiếp xúc với người “cõi âm” và họ chỉ cho nhà ngoại cảm thấy hài cốt của chính họ hoặc những người khác. Trường hợp này, “nhà ngoại cảm” hoặc thân nhân của người chết cần phải thắp nhang cúng bái, gọi hồn… để có thể biết được mộ phần của người đã khuất, rồi sau khi tìm được “hài cốt”, đôi khi chỉ là “chút đất màu đen”… thì phải lập “Đàn” để cúng tế… 

4. Giáo hội và vấn đề ngoại cảm 
    4.1. Nguyên tắc chung 

- Đạo lý: Phạm vi chuyên môn của Giáo Hội là phán đoán hành vi tốt hoặc xấu xét theo luân lý, dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền. Về phương diện này, những hành vi nào trái ngược lại với việc tôn kính Thiên Chúa đều bị ngăn cấm :

* Không ai được phép thờ lạy ma quỷ, hoặc kêu cầu chúng đến trợ lực.
* Không ai được phép đòi buộc Thiên Chúa phải tỏ cho biết tương lai của mình.
* Không ai được phép kêu hồn người chết. (Linh hồn những người chết ở trong tay Chúa, chứ không đi lang thang đến không trung).

- Khoa học: Giáo Hội không can thiệp vào công việc nghiên cứu của các nhà khoa học. Nói đến chuyện khoa học có nghĩa là tìm hiểu sự thực như thế nào, hay chỉ là chuyện ảo giác, và tệ hơn nữa, chuyện lừa đảo, bịp bợm.

- Tâm lý: Có khi một chuyện không xấu xét về mặt luân lý nhưng có hại cho sức khoẻ (dù thể lý hay tâm lý) thì người có trách nhiệm giáo dục phải khuyên can. Sự ngăn cấm này nằm trong mối quan tâm mục vụ. 

     4.2. Trường hợp cụ thể 

- Có nên cấm giáo dân nhờ các nhà ngoại cảm can thiệp trong việc tìm hài cốt không? - Thưa, cần phải xác định tính cách khoa học của các nhà ngoại cảm. Có đáng tin không? Hay cũng giống như mấy ông thầy bói? Dĩ nhiên là khi nhờ các nhà ngoại cảm tìm hài cốt mà có “màu sắc” mê tín, bói toán, chiêu hồn thì tuyệt đối là không được, vì không phù hợp với Đức Tin Kitô giáo!

- Phải giải thích thế nào về những trường hợp xem ra “rất chính xác” theo chỉ dẫn của các nhà ngoại cảm? - Thưa, vấn đề ở đây thuộc về lãnh vực khoa học. Tại sao có những người tìm được mạch nước để đào giếng? Thưa là bởi vì họ có những “giác quan đặc biệt”. Như vậy, trong trường hợp chỉ là ngoại cảm thuần tuý mà thôi, cộng với những bằng chứng khoa học xác thực, thì chúng ta có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, dưới khía cạnh mục vụ thì không nên khuyên người giáo dân cậy nhờ những “nhà ngoại cảm” tìm hài cốt, vì người Công giáo chúng ta có những cách thế khác để tưởng nhớ người đã khuất như xin lễ, dâng lời cầu nguyện cho họ.

- Đối với những trường hợp tìm mộ có “màu sắc” mê tín dị đoan, có được cừ hành các lễ nghi an táng Công giáo không? – Xin thưa là không! Lý do là vì lễ nghi an táng chỉ đựơc thực hiện với thi hài người quá cố (Giáo hội bày tỏ lòng tôn kính đối với thân xác đã được thánh hoá nhờ Bí Tích Rửa tội và là đền thờ của Chúa Thánh Thần) chứ không phải với “nắm đất màu đen” (không bộc lộ được những dấu hiệu khả thể của thân xác nữa). 

III. HIỆN TƯỢNG GỌI HỒN, BÙA NGẢI, THƯ YẾM

1. Quan niệm về linh hồn của Giáo Hội Công Giáo 

- Trong Thánh Kinh, từ linh hồn thường chỉ sự sống con người hoặc toàn bộ nhân vị. Nhưng, từ đó cũng chỉ cái thâm sâu nhất trong con người, giá trị nhất trong con người, nhờ đó con người là hình ảnh của Thiên Chúa một cách đặc biệt hơn: linh hồn là nguyên lý tinh thần trong con người (x. GLCG 363).

- Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến độ linh hồn phải được coi là mô thể của thân xác, nghĩa là nhờ linh hồn thiêng liêng mà thân xác, vốn được cấu tạo bằng vật chất, là một thân xác nhân linh và sống động, tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất (x. GLCG 365).

- Tất cả mọi người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa duy nhất, được phú ban một linh hồn có lý trí như nhau, nên có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc…mọi người đều được hưởng cùng một phẩm giá (x. GLCG 1934). 

2. Suy tư 

- Theo Kinh Thánh và Giáo lý Công giáo, sau khi chết mỗi người đã thể theo tội phúc mà bị phán xét, số nhận như vậy là được cố định vĩnh viễn đời đời (x. GLCG 1021), và đi vào chốn dành cho mình rồi, sao còn có thể làm cô hồn bơ vơ vất vưởng đi lang thang đây đó được nữa?

- Theo Giáo Lý, Thiên Chúa dựng nên mỗi con người là một hữu thể gồm linh hồn và thể xác, thành một bản vị tự lập, tự chủ, có tự do, bất khả xâm phạm (inviolabilité) bất khả thâm nhập (impénétrabilité). Bởi tính bất khả xâm phạm và bất khả thâm nhập này, không ai có thể nhập vào người khác được.

- Vậy theo lý luận của một số nhà thần học, thì chỉ còn các ác thần, quỉ, vốn là thần linh nhưng đã phản nghịch lại Thiên Chúa và muốn hủy hoại kế hoạch của Thiên Chúa, là kẻ thù ghét tuông hạnh phúc loài người mới bất kể tự do, tự chủ của con người, nghĩa là bất kể họ có muốn hay không muốn - cứ xâm nhập họ, có thể không có lý do gì, có thể do bùa ngải của Thầy bùa, pháp thuật…

- Thường nó không bao giờ tự nhận mình là Satan hay quỉ, mà nó mạo tên người nọ người kia, có khi nó còn dám giả làm thiên thần, hay các thần lành, Đấng Thánh nào đó… để cho người đời đừng sợ và dễ tin nó, nhiều khi còn ban ra những lời rất tốt lành, đạo dức, hoặc thi ân giáng phúc, làm những điềm thiêng dấu lạ, thậm chí có khi chữa lành bệnh, khiến cho chúng ta, nếu thiếu cảnh giác sẽ dễ bị xiêu lòng, bị phỉnh gạt, lầm tưởng nó là hồn người hiện về hay ngôn sứ của Thiên Chúa. Dù nó mạo nhận là ai đi chăng nữa, thì hễ “nhập xác” bất hợp pháp thì chắc chắn chỉ Satan, bè lũ satan, quỉ dữ bộ hạ của nó vốn là thần linh dữ mới làm.

- Như vậy, việc “gọi hồn người chết” cũng có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh:


* Khoa học : Có đúng như vậy không, hay chỉ là bị ám ảnh? 
* Đạo lý : Chắc chắn là không được.
* Tâm lý: Gây ra những sợ hãi lo âu, và chắc hẳn là không lành mạnh.


- Sở dĩ Giáo Hội cấm chuyện tiếp xúc với thế giới bên kia, thì lý do là vì con người có thể tiếp xúc được với những thế lực đen tối (occulte). Giáo Hội cấm vì chuyện đó quá nguy hiểm cho con người yếu đuối.
 
- Giáo Hội cấm chiêu hồn hay những thứ liên hệ khác với bùa ngải. Có thể cấm vì lý do nguy hiểm, bởi để làm được điều đó thì chỉ có Chúa và quỷ mới làm được! Mà ta không nên chơi với quỷ.
 
IV. NHỮNG GỢI Ý MỤC VỤ 
- Lời Chúa vẫn mãi không thay đổi. Mạc khải của Chúa Giêsu Kitô là duy nhất và trọn vẹn. Tìm đến những phương thế như bói toán, cầu cơ, xin xăm, là để làm dịu nỗi lo của con người một cách tạm thời, nhưng tạo dịp cho con người tiếp xúc với quỷ, mất dần lòng tin vào quyền năng và tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Người tín hữu nghiêm túc có niềm tin vào Chúa thì sẽ tránh được lo âu, tránh được thèm muốn tìm biết về tương lai, vì tương lai trong tay Chúa quan phòng.


- Không tin tưởng vào chuyện nhập hồn, oan hồn, người cõi âm (hồn người chết) nhập vào người sống vì linh hồn người đã chết thì về với Chúa đề được phán xét chứ không còn chuyện đi lang thang quấy nhiễu người sống.

- Không để bị mê hoặc bởi những hình thức nhập nhằng giữa đạo và dị đoan thí dụ một trường hợp người bệnh được hướng dẫn thả 7 con vịt vào lúc 12 giờ trưa trong khi đọc Kinh Truyền Tin hay yêu cầu đọc kinh trước khi đốt bùa cho uống. Đó là những cách lừa dối rất tinh vi để dụ dỗ người có đạo tin vào một việc làm tà vạy.

- Có những trường hợp mượn danh nghĩa của một học thuật nào đó (chưa có những nghiên cứu đầy đủ về khoa học) như phong thủy, nhân điện, ngoại cảm... nhưng lại kèm vào đó những hành vi dị đoan như bùa chú, trấn ểm, cầu khẩn thần ngoại giáo làm cho nhiều người hiểu lầm là vô hại. Điều này cần cảnh giác cao vì rất dễ lầm lạc. 

- Việc quan trọng là phải giáo dục các tín hữu cách đầy đủ về mặt đức tin để cuộc sống của người Công Giáo phải diễn tả việc tuyên xưng lòng tin cách sống động nhất là từ bỏ những việc làm của ma quỉ cũng như nhưng mưu mô do chúng bày ra.


- Các linh mục phải ý thức mình là người có trách nhiệm săn sóc và bảo vệ đoàn chiên vì thế đừng ngần ngại trong việc trợ giúp các tín hữu khi họ phải đối diện với những mối đe dọa của thế giới tăm tối. Đừng bỏ mặc giáo dân thậm chí có vị còn cho phép giáo dân tìm đến với những thày pháp, phù thủy là tay chân của ma quỉ làm cho giáo dân lầm lạc mất phương hướng và bị ma quỉ khuấy phá sau một thời gian chạy theo những hình thức tà vạy. Có những trường hợp chính các tu sĩ, những người Công Giáo đạo đức lại thực hành những hoạt động dị đoan sai trái làm cho các giáo dân khác hoang mang. 

- Các linh mục cần xác tín mạnh mẽ quyền năng của Chúa trên các quyền lực tăm tối nên đừng sợ hãi vì Thiên Chúa không để cho chúng ta thua quyền lực ma quỉ. Điều quan trọng là phải xác tín về quyền năng của Chúa Giêsu Kitô và sống cách lành thánh.
 

- Đừng sử dụng những dụng cụ ngoại giáo như roi dâu, dây ngũ sắc, lông chó v.v... mà hãy chạy đến với những phương thế rất hữu hiệu mà Giáo Hội đem đến cho ta như Nước Thánh, Thánh Giá làm phép, ảnh Chúa, Đức Mẹ và các Thánh. Ngoài ra còn việc đọc Phúc Âm cũng là một phương rất uy lực làm cho ma quỉ khiếp sợ, đọc Thánh Vịnh, đọc các kinh mà G iáo Hội đã chuẩn nhận như Kinh Cầu Các Thánh, Kinh Cầu Đức Mẹ, thánh Giuse..., lần chuỗi Mân Côi. Về phần người giáo dân phải cùng nhau ăn năn thống hối, từ bỏ tội lỗi để cho quyền năng của Chúa hoạt động mạnh mẽ nơi bản thân mình.
Nhóm Thần học luân lý
UBGLĐT

nguồn: GiaoLyDucTin.net

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | JCPenney Coupons