NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG : CÙNG MẸ MARIA BƯỚC ĐI TRONG ĐỨC TIN
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

CHÂN PHƯỚC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI: TUỔI THƠ VÀ ƠN GỌI

 Chân Phước Giáo Hoàng Phalô VI được sinh ra trong dòng tộc qúi phái, đạo đức. Nuôi dưỡng lớn lên bởi gia đình kiểu mẫu. Và được các linh mục Dòng Tên giáo dục uốn nắn đến nơi đến chốn. Ðó là nền tảng vững chắc cho ơn gọi linh mục của Ngài. Vì thế Ngài được tiến cử nhanh chóng lên ngôi Giáo Hoàng, cầm đầu Giáo Hội, 1963. Hai Giáo Hoàng có công với Công Ðồng Vitacan II, Gioan XXIII và Phaolo VI. Ðức Gioan XXIII khai mở, được phong Hiển Thánh, Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, 27.4.2014. Ðức Phaolo VI, kết thúc, rất xứng đáng được tôn vinh lên bậc Chân Phước, ngày 19.10.2014, dịp kết thúc khóa họp Thượng Hội Ðồng Giám Mục về gia đình kỳ 13, do ngài sáng lập

 Dòng tộc nổi tiếng qúi phái giàu sang và nhân bản

Đức Phaolo VI thuộc dòng tộc Montini, như trong tên thật của ngài phần sau là ....Montini. Từ thế kỷ XV, gốc dòng tộc thuộc miền núi vùng Brescia, sinh sống tại làng Concesio, giữa rặng núi Alpes thuộc Ý hai bên Milan và Vérone. Qua nhiều thế hệ, dòng tộc đông con nhiều cháu. Có nhà cửa doanh trại.  Nổi tiếng cả đời lẫn đạo. Ðời có người làm luật sư, bác sỹ, chưởng khế hay thừa phát lại, giúp ích nhiều cho cuộc sống dân chúng. Ðạo đóng góp cho Giáo Hội nhiều linh mục nam nữ tu sỹ, tích cực phục vụ cộng đoàn dân Chúa, và hoạt động công giáo tiến hành.

Gia đình Giáo Hoàng Phaolo VI ở miền bắc (giáo phận) Brescia, thuộc Sarezzo, nhà cao cửa rộng vườn tược chung quanh. Ông cố nội là bác sỹ Gaetano Montini sinh sống tại Concesio, xa Brescia 10 cây số. Năm 1830. Ông bà cố sinh ra ông nội là Lodovico Montini. Thời kỳ này có giao chiến,  tranh chấp giữa Brescia và Áo từ 1848-1859. Mãi tới 1861, Victor Emmanuel II thắng, phần đất hoàn toàn thuộc Ý.    

Dòng sữa mẹ yẽu thương.

Ông nội Ladovico Montini và bà nội Francesca Buffali có 6 người con. Nhưng ông nội qua đời rất trẻ, năm 41 tuổi. Bà nội mẹ góa con côi, phải bán một phần đất mới đủ nuôi 6 người con, ăn học, lập nghiệp, thành tài. Con cả Ladovico là Giorgio Montini, bố của giáo hoàng tương lai, bỏ ý định học bác sỹ, theo học luật khoa. Anh Giorgio có khiếu viết văn, năm mới 21 tuổi, viết bài cho tờ Il Cittadino di  Brescia (Công Dân Brescia). Anh Giorgio còn trẻ hăng say đã nổi tiếng hoạt động công giáo tiến hành, giúp giáo phận về tài chánh. Tài trợ mở quán cơm, nhà tình thương cho người nghèo của hội thánh Vincent de Paul. Chính Anh sáng lập

 Trong vùng có cô Giuditta Alghisi, 18 tuổi, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, gốc Verolavecchia, sinh sống tại làng xa Brescia 30 cây số. Cô được một người ân nhân bảo trợ giúp đỡ cho học nội trú trong dòng nữ. Thông minh, cô giỏi nhạc, thạo piano, hát múa và vẽ, môn nào cũng hay. Trong cuộc hành hương ở Castiglione, quê hương thánh Louis de Gonzaga, Giorgio và Alghisi quen gặp nhau, hợp đôi, được hướng dẫn đi tới hôn nhân.  Ngày 01.8.1895, lễ thành hôn giữa hai người trẻ, với sự chứng giám tham dự của bạn bè của 18 hội đoàn từ thiện bác ái.

Sau đám cưới, cặp vợ chồng trẻ càng có dịp theo đuổi lý tưởng phục vụ các gia đình như mong muốn. Giorgio được bầu làm giám đốc sáng lập ‘‘Hiệp Hội Công Giáo Người Lao Ðộng’’ (Unions catholique du travail). Giới thiệu việc làm, mở lớp dạy nghề. Giám đốc ngân hàng, giup vốn cho nhà xuất bản, ấn hành tuần báo phát không.

Từ 1895, Giorgio cùng với Giuseppe Tovini dấn thân vào chính trị, hoạt động cho khu vực với tư cách phụ trách Ðảng Công Giáo (Parti catholique) của vùng Brescia. Ông  được bầu làm đại biểu 3 khóa Quốc Hội, đảng Nhân Dân Ý.

Tại Concesio, ông bà Giorgio-Alghisi sinh hạ 3 người con trai : Con cả là Lodovico Montini. người con thứ là Giovanni Battista Montini (giáo hoàng Phaolo VI), sinh 26.9.1897, rửa tội 30.9.1997, sau 4 ngày sinh ra, tại nhà thờ Pieve di Concessio. Battista là tên thân mật trong nhà. Sau này Battista thích ký tên này trong thư gửi cho gia đình, con thứ ba là Francesco Montini. 

Thuộc dòng tộc giàu sang, nên gia đình có nông trại ở Sacca di Nave, không xa Concesio, trồng nho và cây dẻ. Ông bà có thêm người con thứ tư, mất lúc 14 tháng.

Vùng Brescia có khoảng 50 ngàn người. Ông Giorgio Montini là người ai cũng biết đến, vì ông có những hoạt động xã hội bên ngoài. Trái lại bà Alghisi, chuyên chú săn sóc 3 con trong nhà về 3 mặt : căn bản gia đình, đạo đức và văn hóa. Bà dạy con, theo tuổi, kinh hạt, giáo lý, lịch sử căn bản Giáo Hội, và kể lại gương hy sinh cao cả của các Thánh Tử Ðạo, những nét đại cương văn học, sử địa của Ý... Nhà ở Concesio và  Verolavecchia rộng, hai tầng. Một phần cho sinh hoạt gia đình, phần khác cho người làm và giúp việc. Trong nhà có nhiều bức tranh cổ, đồ đạc qúi giá, đắt tiền. Vườn tược trồng cây bóng mát và hoa đẹp mắt. Con cái có đủ thứ vui chơi trong khuôn viên nhà không cần đi đâu xa. Người mẹ khôn khéo tạo bầu khí gia đình đầm ấm vui tươi. Con ngoan. Cha mẹ chăm chỉ đạo đức làm gương. Chủ và người làm đồng thuận. Gia đình còn mở cửa đón khách qúi phái, đạo đức thăm viếng, như Ðức Pio XII đến, khi bà già thân trong nhà là Vergine qua đời. Xứ đạo ai cũng cho gia đình là kiểu mẫu đạo đức và liêm chính, khỏi chê. 

Bước vào trường làm người

Năm 1902, Battista cắp sách nhập học trường công giáo Cesare Arici, do các Dòng Tên trông coi giáo dục, thành lập từ 1882. Có thời gian, trong 4 năm, trường bị đóng cửa vì tranh chấp của báo chí, chính phủ vốn không thích trường công giáo. Sau, nhờ thế giá dòng họ Montini can thiệp,  trường mở cửa lại. Có dịp, trường tuyển chọn học sinh kỹ hơn. Vì thế, trường có uy tín, thế giá và nổi tiếng.  Trong trường, thầy và bạn rất qúi mến Battista, về tư cách xử thế, chăm chỉ, hòa nhã, đứng đắn và rộng lượng hay giúp đỡ người khác.

Hai năm đầu Battista bị thu hút, ảnh hưởng bởi nếp sống của các linh mục dòng Santa della Pace, gọi tắt là Pace. Sinh hoạt mục vụ của các ngài là nguồn sinh khí cho hầu hết trong các xứ và trường công giáo vùng Brescia. Hoạt động các ngài mở rộng phát triển ba mặt trí, đức và dục. Hấp dẫn, hợp và dễ lôi cuốn giới trẻ.

Mẹ của Battista theo dõi việc học của các con. Thúc dục con cái theo sát thời khóa biểu nhà trường, không được đi trễ hay bỏ học. Về nhà bà kèm bài vở, cho các con đọc truyện bà Thánh Jeanne d’Ars và ‘‘Truyện Một Tâm Hồn’’ của thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu. Bà còn chú trọng đời sống bên trong gia đình. Ngày nào cả nhà cũng đi dự lễ, rồi ai nấy làm việc mình. Dịp sinh nhật bố, 1914, Battista viết trao cho mẹ : Con hứa chăm chỉ, học hành đàng hoàng ở nhà trường, ngoan trong gia đình và nhất là đẹp lòng Chúa.

Trong trường, Battista được xếp học sinh ngoan và giỏi nhất lớp. Học bạ 1909 của cậu, ghi : hạnh kiểm : 10/10. Tiếng Ý, Latin, Toán, Sử Ðịa  : 8/10.  Chữ đẹp (Calligraphie) : 7/10. Hồi đó chương trình học, 1910, cuối năm phải thi lên lớp. Năm nghỉ hai tháng 6 và 12. Các con ông bà nghỉ ít tuần ở miền quê, dòng Don Bosco. Còn con phải theo lớp luyện thêm cho kịp học năm học tới. Bạn bè còn giữ hình lớp kỷ niệm cho hay : Basttista tạng người gầy yếu, thông minh, sáng trí, chịu đọc sách báo, cái gì cũng biết, cũng hay một cách tường tận. Trong lớp đặt tên Battista là ‘’cuốn tự điển’’

 Gia đình là ngưỡng cửa ơn gọi

Đức Phaolo VI có viết nhật ký, ghi rõ về ơn gọi qua nhiều chặng, biến cố nội tâm trong đời. Trong đầu thời trẻ cũng mơ làm luật sư, nhà văn, nhà báo. Trong lúc phân vân suy nghĩ lựa chọn thì một hôm cha mẹ cho hay tin buồn trong Giáo Hội : Đức Giáo Hoàng Léon XIII từ trần. Năm ấy, 1903, Battista chưa được 6 tuổi. Tự nhiên cậu bé cảm động hết sức mạnh và nghĩ là phải cầu nguyện cho vị cầm đầu Giáo Hội. Rồi 4 năm sau, tháng 5.1907, cậu theo bố mẹ về Roma, viếng hang Toại Đạo và còn hân hạnh tham dự thánh lễ do Thánh Giáo hoàng Pio X cử hành tại đền thánh Phêrô. 

Tháng sau, Battista rước lễ Lần đầu tại Brescia. Sau 15 ngày nhận phép Thêm Sức. Năm 1907, gia đình di chuyển về Via delle Grazia. Nhà mới có 3 khu, gia đình xử dụng hai. Phần kia cúng cho nhà thờ Santa Maria delle Grazie. Tiện cạnh nhà thờ, bà mẹ hay dẫn con, nhất là Battista qua khu nhà thờ Ðức Mẹ đọc kinh. Chính trong lúc bên Trinh Nữ Maria, là lúc người trẻ múc được nhiều ơn thánh cho đường tu sau này. Bước đầu người mẹ đóng góp công cho con suy nghĩ tương lai mình.

Năm 1910, tại Chiari, 25 cây số xa Brescia, xuất hiện dòng tu Biển Đức, do gia tộc Menna, bạn gia tộc Montini. Trong dòng có một số thầy người Pháp, phụ trách hướng dẫn nhóm trẻ. Trong đó có Battista, các người trẻ tham gia giờ kinh của dòng.  Mầm mống ơn gọi bắt nguồn tại đây. Nhật ký có ghi (1913) : Tôi ngây ngất biết rằng, không hồ nghi trong đáy lòng ước ao tận hiến phục vụ tha nhân.

Tháng 7.1913, cùng với bạn là Lionelle Nardini nhập chủng viện Santangelo, Brescia. Năm 1914, Battista tuyên bố quyết định trở thành linh mục, và viết  :
Lạy Chúa Kitô, con xin hiến dâng mình con trong tay Chúa.
Chỉ có Chúa là Con Ðường, là Sự Thật vá là Sự Sống.
Như dưới chân đồi Thánh Giá.
Con xin nhận đau đớn thể xác cho con như của lẽ lễ hy sinh hằng ngày.
Mà con sẽ hiến dâng trong thánh lễ sau này.

Trong thư đầu viết cho Trebeschi :
Không có gì thay đổi lập trường tôi theo đuổi bấy lâu. Ðức cha Brescia làmgiám  đốc chủng viện. 20 giờ học một tuần. Các môn đạo nhiều hơn. Môn Thần Học, tôi thích nhất, giúp tiến tới linh mục.

Vì sức khỏe yếu, có năm thày phải về gia đình nghỉ chữa bệnh. Khỏe một chút, thầy trở lại chủng viện. Không bỏ kỳ thi và tĩnh tâm nào, điểm học vẫn cao.

Linh mục Franceco Galloni, cha sở Pieve de Concessio làm chứng : thầy nhiệt tình, tận tâm với công tác trao phó và quan tâm tới việc truyền giáo. Liên hệ tốt với người nghèo khổ, cần đến. 

Cha Linh Hướng xác nhận về ơn gọi của người con tinh thần : Battista từ nhiều năm đã suy nghĩ chín chắn về con đường theo Chúa. Ứng sinh đầy nghị lực, quyết tâm làm việc không mệt mỏi với các linh hồn.                                                                                                                                                                                 
                                                                                                                                                                                                                                                           Hoạt động nhân đạo  
trong thời chiến tranh.

Nước Ý tham gia đệ nhị thế chiến, bao nhiêu tàn khốc, tang thương, chia lìa. Cả nước tích cực cứu trợ. Thày Battista Montini và gia đình trải qua 20 năm chiến tranh, từ 1914. Lúc bấy giờ, các chủng sinh được phép ngoài giờ học, tham gia cứu trợ chiến tranh những nơi cần thiết. Các nhóm do các linh mục Pace điều khiển, phối hợp với giáo dân, tu sỹ ...

Có nhiều việc phải làm khi bom đạn tàn phá khắp nơi. Cần nhân vật lực.  Mặt thông tin đã có tờ báo của bố, và nhiều tờ khác, kêu gọi các hiệp hội từ thiện ra tay giúp đỡ. Còn Battista vận động bạn bè thành nhóm quyên góp thuốc men, thực phẩm, lều trại, quần áo...Xin xe chở các kiện hàng giao tân nơi. Tránh thất thoát, ăn chận. Hè 1915, nhiều nhóm tình nguyện đi xa, có nơi nguy hiểm đang bùng cháy. Họ nhào vô, cốt cứu mạng sống hơn của cải, vật chất ... Lòng hảo tâm và nhiệt thàng của người Ý đã an ủi nhiều người và băng bó vết thương chiến tranh.

Nơi nào yên, có hội Alessandro Manzoni do anh của thầy Battista bên ngoài yểm trợ mua sách báo gửi tới cho binh sỹ Ý. Có xe như ‘‘Thư viện lưu động’’, chở sách báo, phim ảnh đến tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Bố của thày Battista vận động tiền bạc nơi các ngân hàng mua nhu yếu phẩm cần thiết khác.

Sau chiến tranh gia đình Montini mở hiệp hội ‘‘ Sinh viên công giáo hậu chiến’’, nâng đỡ các gia đình gặp khó khăn, túng bấn, trắc trở đạo lý : trẻ mồ côi, bà góa trẻ, người tàn tật... Hoạt động mở rộng cả tới những nước tham chiến như Ðức, Pháp, Nga và Trung quốc. 

 Có thể nói cả gia đình Montini tham gia ‘‘cứu trợ chiến tranh’’ Thày Battista học trong chủng viện mà lo cho bác ái nhờ bố và anh cả nâng đỡ bên ngoài. 
Phạm Bá Nha (vietnamparis)

CHUYỆN BỨC ẢNH ĐẪM MÁU CỦA CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP


Sau đây là nguyên văn bức thư của GS Trần Anh Linh gửi cho cụ Võ Hữu Hạnh, nói về bức ảnh đẫm máu. Xin ghi chú thích thêm rằng chuyện này xảy ra khoảng năm 2008, và hiện nay Linh Mục Gioan Nguyễn Văn Minh nghỉ hưu, ở gần nhà thờ Hiển Linh, đường Ngô Tất Tố, Q. Bình Thạnh, khu vực Thị Nghè, thuộc TGP Saigon. Ngài nổi tiếng về việc khấn Đức Mẹ giùm những người bệnh tật và kết quả rất tốt.

Sau đây là nguyên văn bức thư của GS Trần Anh Linh gửi cho cụ Võ Hữu Hạnh, nói về bức ảnh đẫm máu. Xin ghi chú thích thêm rằng chuyện này xảy ra khoảng năm 2008, và hiện nay Linh Mục Gioan Nguyễn Văn Minh nghỉ hưu, ở gần nhà thờ Hiển Linh, đường Ngô Tất Tố, Q. Bình Thạnh, khu vực Thị Nghè, thuộc TGP Saigon. Ngài nổi tiếng về việc khấn Đức Mẹ giùm những người bệnh tật và kết quả rất tốt.
 
Đây là bức thư của GS Trần Anh Linh:
 
Anh Hạnh thân mến,
Tôi xin gửi tặng anh món quà quý giá mà Cha Diệp đã ban cho tôi qua Cha Gioan Minh: Cha Diệp đã thực hiện 1 phép lạ nhãn tiền là dùng chính tấm ảnh mà chúng ta đã cho họa sĩ Đại Hàn ở khu Phúc Lộc Thọ vẽ rồi in ra nhiều ấn bản, vừa làm thành sách, vừa in thành ảnh gởi tặng và bán khắp nơi.

Tấm ảnh đó đã đổ máu đào lênh láng từ vết chém bằng đao kiếm đứt cổ, máu Cha đã đổ ra thấm ướt làm mờ hàng chữ Trương Bửu Diệp bên dưới.

 
Câu chuyện xảy ra như sau: Một hôm Cha Gioan Minh vào nhà sách Đức Mę Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng và chọn mua 1 tấm ảnh của Cha Diệp mà Cha đã nghe có nhiều phép lạ. Cô bán hàng dùng giấy báo gói bức ảnh có đóng khung sẵn trao cho Cha Minh. Cha Minh về đến nhà, tính mở ra để treo lên tường thì 1 ơn lạ đã xảy ra là máu tươi từ cổ bức ảnh tuôn trào ra thấm ướt cả tờ báo gói bức tranh.
 
Cha Minh kinh ngạc bèn cho đó là 1 dấu chỉ quan trọng, nên đã gói lại cẩn thận và lặng lẽ đem lên Tòa Tổng Giám Mục Saigon trình với Đức Cha Phạm Minh Mẫn. Theo Cha Minh cho biết, tấm ảnh thấm máu này đã được gửi qua để Tòa Thánh xét nghiệm, hy vọng rằng đã đến lúc Tòa Thánh cho lập Ban Điều Tra, tìm hiểu về các ơn lành Cha Diệp đã làm, mà việc lạ lùng làm cho máu đào từ vết cổ đổ ra sẽ là 1 trong những chứng cớ để Tòa Thánh có thể tôn phong Chân Phước cho Cha Diệp.
 
Tôi là bạn thân của Cha Minh, nên Cha đã tặng tôi 1 tấm. Tôi sao lại và gởi tặng anh, đây là tài liệu mới nhất về Cha Diệp, anh nên ghi chú vào tập sách Các Ơn Lành của Cha Diệp.
 
Trần Anh Linh
(Trích từ Thời Báo Houston)

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

TINH YÊU CỦA CÁC THÁNH VỚI KINH MÂN CÔI

ignatius.jpg
Thánh Ignazio thành Loyola

Khi dọc cuộc đời các Thánh, chúng ta nhận thấy các vị rất hiểu biết, yêu thích và sùng mộ Kinh Mân Côi như là ”ơn của Đức Maria”. Trong tám thế kỷ qua, các Thánh đã yêu mến Kinh Mân Côi với tình yêu đặc biệt, bằng cách để Tràng Chuỗi vào chỗ danh dự cạnh Nhà Tạm, cạnh Thánh Giá Chúa, cạnh Sách Lễ và sách Kinh Thần Vụ.

Chúng ta tìm thấy Tràng Hạt Mân Côi trên bàn làm việc của các Thánh Tiến sĩ Giáo Hội như thánh Lorenxo thành Brindisi, thánh Phêrô Canisio, thánh Roberto Bellarmino, thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thánh Phanxicô de Salê, thánh Alfonso Maria de Liguori. Chúng ta cũng tìm thấy Tràng Hạt Mân Côi trong tay các vị tông đồ nhiệt thành như thánh Carlo Borromeo, thánh Filippo Neri, thánh Phanxicô Saverio, thánh Luigi Grignion de Monfort và biết bao nhiêu vị Thánh khác. Nhiều vị Thánh lập dòng đeo Tràng Hạt Mân Côi nơi cổ như thánh Ignazio thành Loyola, thánh Camillo de Lellis. Cũng có các Thánh linh mục có thói quen đeo Tràng Hạt Mân Côi ở cổ như cha Thánh Gioan Vianney Cha sở họ Ars, cha thánh Giuseppe Cafasso. Và cũng có các nữ tu nữa như thánh nữ Margherita, thánh nữ Bernadette, thánh nữ Maria Bertilla. Thế rồi còn có các vị thánh trẻ như thánh Stanislao Kostka, thánh Jean Berchmans và thánh Gabriele của Đức Mẹ Sầu Bi.

Từ thánh Đaminh cho tới thánh nữ Maria Goretti, từ thánh nữ Catarina cho tới thánh Massimiliano Kolbe, thánh Pio Năm Dấu thành Pietrelcina, cho tới các vị Tôi tớ Chúa như Giacomino Gaglione, Don Dolindo Ruotolo, tất cả làm thành một chuỗi các vị đươc tuyển chọn đã coi Tràng Hạt Mân Côi được làm phép như một khí giới chinh phục, một cầu thang bác lên Trời, một vòng hoa tình yêu, một dây chuyền công nghiệp, một vòng ơn thánh cho chính mình và cho tha nhân.

Nếu chúng ta muốn yêu mến Chuỗi Mân Côi trong kiểu tinh tuyền nhất và đẹp lòng Đức Mẹ nhất, chúng ta phải theo học trường của các Thánh, là các người con ưu tuyển của Mẹ. Các vị đã yêu mến Chuỗi Mân Côi rất nhiều, và cùng với thánh nữ Têrêxa các vị bảo đảm với chúng ta rằng không có lời kinh nào đẹp lòng Thiên Chúa hơn Kinh Mân Côi.

Tự nó Kinh Mân Côi đã có sức thiêng phi thường kéo đổ ơn lành xuống trên tâm hồn và cuộc sống tín hữu, nhưng khi được đọc trước Mình Thánh Chúa nó trở thành một vũ khí vô cùng hữu hiệu trong cuộc sống kitô. Trong biết bao nhiêu năm trời tín hữu và khách hành hương đã chứng kiến cảnh cha Pio thành Pietrelcina qùy cầu nguyện hàng giờ với Tràng Hạt trong tay nơi bàn thờ Thánh Thể và chiêm ngắm Đức Mẹ Ban Ơn Thánh dịu ngọt, gương mặt đắm chìm không mỏi mệt, như một Môshê mới khẩn cầu cho các anh chị em khác còn đang sống trên trần gian này.

Kinh Mân Côi đọc trước Thánh Thể khiến cho tín hữu được ơn toàn xá, nếu họ cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng và xưng tội rước lễ sau đó. Đây là một ơn thánh đặc biệt, mà Chúa Giêsu muốn để khiến cho Kinh Mân Côi, là nữ vương của các lời kinh dâng lên Đức Mẹ, trở thành qúy báu hơn nữa. Vì thế khi có thể, cần phải luôn luôn ưa thích lần hạt Mân Côi trước Thánh Thể hơn: làm sao Chúa Giêsu lại không vô cùng sung sướng, khi nghe tín hữu cầu khẩn Mẹ rất dịu hiền của Người như vậy.

Nhưng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI còn dậy cho chúng ta biết rằng Kinh Mân Côi còn làm được nhiều hơn nữa. Nó đưa chúng ta tới ngưỡng cửa của Phụng Vụ, hay tới cửa của lời cầu nguyện vĩ đại nhất của Giáo Hội là việc cử hành bí tích Thánh Thể. Kinh Mân Côi là lời kinh tuyệt hảo nhất chuẩn bị và cám ơn cho Thánh Lễ, cho việc Hiệp lễ và Chầu phép lành Mình Thánh Chúa.

Vị tôi tớ Chúa Giunio Tinarelli, nạn nhân tự nguyện của khổ đau, trên gường bệnh đau đớn đã luôn muốn có bên cạnh mình cuốn sách lễ và Tràng Hạt Mân Côi, và trong các giờ khổ đau chao đảo nhất người đã nắm chặt hai thứ đó trong tay. Sách lễ và Tràng Hạt, Nhà Tạm và Tràng Hạt, Bàn thờ và Tràng Hạt: xem ra chúng luôn lập đi lập tại tên Giêsu và Maria, không tách rời nhau và không thể nào phân ly được.

Cha Anselmo Treves và cha Pio thành Pietrelcina thường dâng thánh lễ vào lúc 4 giờ sáng. Và hai vị chuẩn bị Thánh Lễ bằng các tràng hạt dài. Cha Pio thành Pietrelcina bắt đầu việc chuẩn bị dâng Thánh Lễ bằng cách dậy lúc một giờ sáng, đọc Kinh Thần Vụ và lần nhiều Tràng Hạt, hơn 20 chuỗi; cho tới lúc 4 giờ kém mười sáng, để xin Mẹ Maria giúp ngài chuẩn bị dâng Thánh Lễ, và ngài tiết lộ rằng đôi khi chính Mẹ Maria cùng đi với ngài lên bàn thờ, với sự dịu dàng hiền mẫu vô biên.

Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện đầy đủ nhất giúp chuẩn bị cho Thánh Lễ, bởi vì, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI giải thích, nếu Thánh Lễ ”khiến cho các mầu nhiệm cứu độ vĩ đại nhất của chúng ta hiện diện dưới tấm khăn che của các dấu chỉ hoạt động một cách cao cả”, thì Kinh Mân Côi ”với lòng yêu thương sùng mộ của việc chiêm niệm, gợi lại chính các mầu nhiệm ấy nơi tâm trí người cầu nguyện và kích thích ý muốn của nó, bởi vì nó kín múc các điều luật sự sống từ đó” (Marialis cultus, 48).

Chẳng hạn hãy nghĩ tới việc đọc các mầu nhiệm thương của Kinh Mân Côi trước Thánh Lễ. Việc chiêm ngưỡng cuộc Khổ Nạn và cái Chết của Chúa Giêsu là cách chuẩn bị lý tưởng nhất cho việc tham dự sống động nhất vào Hiến Tế của Đồi Canvê, được csnh tân trên bàn thờ trong tay vị Linh Mục.

Hãy nghĩ tới việc đọc các mầu nhiệm mừng của Kinh Mân Côi sau khi rước lễ: như Đức Mẹ tiếp nhận và gìn giữ Chúa Giêsu trong lòng, thờ lậy Người và yêu mến Người như Thiên Chúa, cũng thế việc rước lễ khiến cho chúng ta chiếm hữu được trong con tim và trong thân xác chúng ta chính Chúa Giêsu phải thờ lậy với chính sự thờ lậy yêu thương của Đức Mẹ.

Chính vì thế thánh Giuseppe thành Copertino, thánh Alfonso de Liguori và cha Pio thành Pietrelcina có lý, khi sốt sắng lần hạt Mân Côi để cám ơn sau Thánh Lễ và sau khi Hiệp lễ. Đức Mẹ là Đấng gìn giữ kho tàng làm cho con cái Mẹ chiếm được và thu tích các ơn thánh này trên ơn thánh khác.

Chân phước Alain de la Rupe, con cái của thành Đaminh, và là người đã để lại cho chúng ta cấu trúc hiện nay của Kinh Mân Côi, đã viết lại cho chúng ta các lời hứa mà người đã nhận được từ Đức Mẹ đối với những ai sùng mộ Kinh Mân Côi Thánh.

Đó là những lời hứa ban ơn cứu rỗi vĩnh cửu, các ân sủng đặc biệt, sự nâng đỡ và che chở trong các hiểm nguy, sự tấn tới thiêng liêng, và vinh quang đặc biệt trên trời.

Tuy nhiên, chính chúng ta phải khiến cho các lời hứa ấy của Đức Mẹ có giá trị với sự đáp trả và lòng biết ơn con thảo của chúng ta. Các lời hứa ấy còn chứng minh cho chúng ta thấy hơn nữa Kinh Mân Côi qúy báu đối với Đức Mẹ và Mẹ lưu tâm tới nó chừng nào. Chân phước Bartolo Longo đã có lý, khi khẳng định rằng Kinh Mân Côi là ”lời cầu thân thiết nhất đối với Mẹ Maria, được các Thánh ưu ái nhất, thường được đọc nhất giữa các dân tộc, được Thiên Chúa minh giải với các điềm thiêng tuyệt diệu nhất, được minh xác bởi lời hứa lớn lao mà Đức Trinh Nữ Diễm Phúc đã hứa.

Sau cùng xem ra không thể nghi ngờ được rằng ngày nay Đức Mẹ muốn dùng chính Kinh Mân Côi để cứu chúng ta, và đổ tràn đầy ơn thánh cho chúng ta. Thật thế, chúng ta hãy nghĩ xem, không phải tình cờ mà Mẹ Maria Rất Thánh muốn tự giới thiệu mình ở Fatima với tước hiệu ”Đức Bà Mân Côi”. Chúng ta thấy các điều quan trọng nhất đối với thời đại chúng ta được gắn liến với Kinh Mân Côi. Có ai hỏi tại sao mỗi ngày lần nhiều tràng hạt Mân Côi như vậy thì cha Pio thành Pietrelcina trả lời: ”Nếu Trinh Nữ Thánh đã luôn luôn nồng nhiệt xin chúng ta lần hạt Mân Côi ở bất cứ nơi đâu Mẹ hiện ra, thì con lại không nhận thấy là có một lý do đặc biệt hay sao?” Và chị Lucia thành Fatima bảo đảm với chúng ta rằng trong thế giới khốn khổ này ”nếu tất cả mọi người lần hạt Mân Côi mỗi ngày, thì Đức Mẹ sẽ có được các phép lạ”.

Chúng ta được tất cả và được nhiều, khi vây chặt quanh Mẹ là Nữ Vương thân yêu của chúng ta, bằng cách cột buộc chúng ta vào Mẹ với tràng hạt được chúc phúc. Chúng ta hãy tìm làm điều đó. Chúng ta hãy cố gắng làm điều đó mỗi ngày, không phải trong bất cứ cách thức nào, nhưng theo các mẫu gương duy nhất và thân yêu nhất của chúng ta là các Thánh. Chúng ta hãy xin các ngài ơn được hiểu giá trị của Kinh Mân Côi; Chúng ta hãy xin các ngài ơn sức mạnh trung thành lần hạt Mân Côi mỗi ngày, với trái tim con thảo.

(Thánh Mẫu Học bài số 364)

Linh Tiến Khải

VỀ VIỆC TRƯNG BÀY VÀ TÔN KÍNH ẢNH TƯỢNG ĐỨC MẸ VÀ CÁC THÁNH


tuong.jpgHỏi: Việc đúc, vẽ, trưng bày và tôn kính các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh có phải là hình thức thờ ngẫu tượng (idolatry) như anh em Tin Lành thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo không ?
  

Trả lời:

Sở dĩ anh em Tin Lành (Protestants) nói chung thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo về việc đúc, tạc, vẽ ảnh tượng Chúa ( Iconography) vì họ dựa vào những điều răn trong Sách Đệ Nhị Luật qua đó Thiên Chúa cấm dân Do Thái “không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời… không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của người là một vị thần ghen tương...” ( Đnl 20: 4-5) Nhưng phải nói ngay là Giáo Hội Công Giáo đâu có dạy tín hữu tôn thờ các ảnh tượng( iconolatry) mà chỉ tôn kính ( venerate, honour) vì những lý do chính đáng sau đây:

Trước hết, với Thiên Chúa Cha, Người là Đấng vô hình, vô tượng, không ai đã nhìn thấy Chúa bao giờ, nên không thể tạc vẽ được dung nhan của Người cách nào được.

Đọc Kinh Thánh Cựu Ước, chúng ta chỉ thấy Thiên Chúa xuất hiện và nói với ông Môsê một lần qua hình ảnh “Bụi gai bốc cháy” mà không bị thiêu rụi.(x Xh 3:1-6). Đến thời Tân Ước, Thiên Chúa Cha đã cho nghe tiếng Ngài phán ra từ trời cao trong dịp Chúa Giêsu từ sông Jordan bước ra sau khi nhận phép rửa của Gioan: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con."(x.Lc 3:22).

Và một lần nữa, khi Chúa Giêsu dẫn ba Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, nơi đây bất ngờ Chúa Giêsu đã biến đổi dung mạo trước mắt các ông và bỗng chốc có tiếng Chúa Cha từ trời phán ra: “Này là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).

Đó là tất cả hình ảnh và tiếng nói của Đức Chúa Cha trong Kinh Thánh Tân và Cựu Ước.

Về Chúa Thánh Thần, thì Kinh Thánh chỉ cho ta thấy hai hình ảnh: một là hình chim bồ câu đáp xuống ngự trên Chúa Giêsu sau khi Chúa chịu phép rửa tại sông Gio-đan.(x.Mt 3:16). Và lần nữa trong dịp LễNgũ Tuần (Pentecost), Chúa Thánh Thần đã lấy hình lưỡi lửa đậu xuống trên từng Tông Đồ đang tụ tập trong nhà đóng kín cửa. (Cv 2:3)

Ngược lại với Chúa Giêsu thì khác. Người là Thiên Chúa thật cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nhưng khi nhập thể làm Con Người thật, Chúa Giêsu “đã mặc lấy xác phàm” để trở nên giống con người về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi.

Chính trong thân xác, hình hài và dung mạo Con Người của Chúa Giêsu mà Chúa Cha, Đấng vô hình vô tượng, được nhìn thấy cách cụ thể hữu hình qua chính lời Chúa Giêsu đã nói với Philiphê như sau: ” Ai thấy Thầy thì thấy Chúa Cha Sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?”(x. Ga 14: 9) .

Như vậy, Chúa Giêsu là Bí tích, là hiện thân hữu hình của Chúa Cha giữa các môn đệ và những ai có diễm phúc đã được gặp và thấy Chúa Giêsu trong suốt ba năm Người đi rao giảng Tin mừng Cứu Độ, chữa lành các bệnh nhân và làm nhiều phép lạ như đã được ghi chép trong bốn Phúc Âm..

Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ đều là loài thụ tạo, tức là con người nhưchúng ta nên các ngài phải có thân xác như mọi người trần thế.

Vì vậy, trước hết, việc đúc tượng và họa hình Chúa Giêsu Kitô là điều được khuyến khích theo giáo lý của Giáo Hội: “Vì Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể khi mặc lấy nhân tính và có thân xác giới hạn rõ ràng, cho nên, khuôn mặt loài người của Chúa có thể được vẽ ra theo trí năng con người có thể hình dung ra được. Liên quan đến việc này, trong khoá họp thứ 6 của Công Đồng đại kết tại Nicea năm 787, Giáo Hội đã nhìn nhận việc hoạ lại hình dung của Chúa Giêsu trong các ảnh tượng thánh là điều chính đáng”. (x. SGLCG,số 476)

Từ đó, việc tạo chân dung và hình ảnh (Statues and Icons) của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh để tôn kính trong Nhà Thờ, Nhà Nguyện hay ở tư gia là điều chính đáng được phép làm trong Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống (Orthodox) trừ anh em Tin Lành xưa nay vẫn chỉ trích việc này là thờ ngẫu tượng = (idolatry), hoặc thờ ảnh tượng (Iconolatry).

Để trả lời cho vấn nạn trên và cũng để giúp quý tín hữu khắp nơi hiểu rõ lý do vì sao Giáo Hội Công Giáo cho phép dùng ảnh tượng trong việc thờ phượng , tôi xin được giải thích thêm chi tiết như sau:

Trước hết, chúng ta cần biết điều quan trọng này: đành rằng Thiên Chúa cấm dùng bất cứ hình ảnh nào do bàn tay con người làm ra để mô phỏng hay tượng trưng Thiên Chúa (x. Deut 4:15-18; SGLCG, số 2129). Nhưng mặt khác, Chúa cũng đã truyền cho dân Do Thái phải khắc ghi các Điều Răn của Ngài vào đá tảng, phải làm một Hòm Bia bằng gỗ bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài và đúc hai tượng thần hộ giá đặt ở hai đầu của Hòm Bia mà bên trong có chứa đựng các Điều Răn của Chúa như Giao Ước giữa Ngài và Dân Do Thái.(x. Xh 25: 10-22). Như thế Hòm Bia tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân của Ngài. Điều này cho thấy Thiên Chúa vẫn cho phép dùng những vật hay hình ảnh cụ thể như những biểu tượng (symbols) để giúp con người hướng lòng lên tới Ngài là Đấng vô hình vô tượng, vượt quá tầm hiểu biết và hình dung của tâm trí con người như Giáo Hội đã dạy như sau:

Ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền hoặc cho phép làm ra những hình ảnh như những biểu tượng dẫn đến ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời Nhập thể: đó là con rắn bằng đồng, Hòm Bia Giao Ước và các thiên thần sốt mến.( x. SGLCG, số 2130).

Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau về ý nghĩa và mục đích của hai từ ngữ tôn kính (veneration) và tôn thờ (adoration).

Tôn thờ là hành động thờ lạy và yêu mến cao nhất (latria) chỉ dành cho một mình Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng mà thôi. Đức Mẹ được tôn kính ở mức Hyperdulia trong khi các Thánh nam nữ được tôn kính ở mức Dulia, tức là được mến mộ chứ không được tôn thờ. Ảnh tượng chỉ giúp con người dễ nhận biết để hướng tâm hồn lên tới Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà các ảnh tượng kia là biểu tượng hay vật xúc tác thiêng liêng chứ không phải là hiện thân của Chúa, của Đức Mẹ và các Thánh.

Như thế, ta phải tôn thờ một Thiên Chúa, tôn kính Đức Mẹ và các Thánh mà ta không nhìn thấy bằng giác quan chứ không được thờ lạy hay tôn kính các ảnh tượng kia như chính hiện thân của Chúa, Đức Mẹ và các Thánh.

Nói khác đi, chỉkhi nào tôn thờ, tôn các kính ảnh tượng như chính Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh hiện diện trong các ảnh tượng đó thì đây mới là hình thức thờ ngẫu tượng (idolatry) hay thờ ảnh tượng (iconolatry) tức là điều nghịch với đức tin cần phải ngăn cấm.

Ngược lại, nếu chỉ dùng ảnh tượng như phương tiện hữu ích để nâng lòng lên tới Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà ảnh tượng kia là trung gian tượng trưng thì không có gì lỗi nghịch điều răn thứ nhất về đức thờ phượng. Ngay cả với Chúa Kitô, dù Ngài có thân xác, hình hài như mọi người chúng ta, nhưng tượng Chúa chiụ nạn trên thánh giá, hay hình ảnh Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ, cũng chỉ là những biểu tượng giúp ta nhớ đến Chúa Kitô đích thực đang ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời, và hiện diện bí tích thực sự trong Phép Thánh Thể nơi trần gian. Cho nên, ta phải tôn thờ với tất cả lòng kính yêu Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hình bánh và hình rượu mỗi khi Bí tích Thánh Thể được cử hành.

Ngoài Bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô không hiện diện tương tự trong các ảnh tượng khác của Chúa, như tượng Chúa chịu nạn, hình Bữa Tiệc Ly, Máng cỏ hay hình Chúa tỏ lòng thương xót cho thánh nữ Faustina...

Cũng vậy đối với Đức Mẹ, và các Thánh nam nữ, hình ảnh của các ngài mà người ta đúc nặn hay tô vẽ mỹ thuật đến đâu thì cũng chỉ là biểu tượng giúp đánh động niềm tin và lòng yêu mến, tôn kính và biết ơn (esteem,veneration and gratitude) của ta đối với Mẹ và các Thánh đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên đàng, chứ không hề hiện diện thực sự nơi các ảnh tượng đó, dù được làm bằng vàng, bạc, gỗ quý hay đá kim cương, cẩm thạch và trưng bày ở bất cứ nơi linh thiêng nào trên thế giới và trong Giáo Hội.

Tóm lại, ta không được phép coi các ảnh tượng như chính hiện thân của Chúa, Đức Mẹ, và các Thánh, trừ Phép Thánh Thể. Các ảnh tượng chỉ là các phụ tích hay á bí tích (sacramentals) nhắc nhở chúng ta nhớ đến để yêu mến tôn thờ Chúa và tôn kính Đức Mẹ và các Thánh đang ở trên trời mà thôi. Dầu vậy, chúng ta cũng phải dành cho các Á bí tích này một sự kính trọng đúng mức, vì Công Đồng chung thứ VII, họp tại Nicêa năm 787 đã biện minh cho việc tôn kính các ảnh tượng thánh, chống lại những người phá hủy ( iconoclasts) các tượng thánh như ảnh tượng Chúa Kitô, ảnh tượng Đức Mẹ, các thiên thần và tất cả các vị thánh. Khi nhập thể, Con Thiên Chúa đã khai mạc một chương trình mới, một kế hoạch mới về các ảnh tượng.(x.Sđd,số 2131)

Mặt khác, tuy Giáo Hội cho phép đúc và vẽ chân dung Chúa Kitô, Đức Mẹ và các Thánh, nhưng việc này phải được thực hiện sao cho phù hợp với đức tin, văn hoá và phong hoá của các dân tộc. Nói rõ hơn, không thể vẽ chân dung, ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh một cách lãng mạn, thiếu nội dung đức tin và đường nét trang trọng linh thiêng giúp đạt mục đích tôn kính trong phụng vụ và đời sống tín hữu.

Thánh Gioan Damascene (675-749) đã nói như sau về nét đẹp thiêng liêng của các ảnh tượng thánh: “Vẻ đẹp và mầu sắc các ảnh thánh kích thích việc cầu nguyện của tôi. Đó là một lễ hội cho đôi mắt tôi, cũng như phong cảnh đồng quê kích thích tâm hồn tôi ca tụng vinh quang của Thiên Chúa”. ( De imag. 1,27)

Ngày nay, các tín hữu thuộc nhiều sắc dân đều có khuynh hướng muốn hội nhập đức tin vào văn hoá (inculturation of faith), nên đã vẽ ảnh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse, vốn là người Do Thái, da trắng thành da đen, da đỏ, da ngăm ngăm tùy theo sắc thái văn hóa và chủng tộc của người tín hữu.

Người Công giáo Việt Nam chúng ta cũng đã có tượng Đức Mẹ La Vang với y phục và nét Việt Nam riêng biệt. Người Mễ Tây Cơ có Đức Mẹ Guadalupe, người Pháp có Đức Mẹ Lộ Đức và Bồ Đào Nha có Đức Mẹ Fatima...Giáo Hội không ngăn cấm việc tạc tượng với những sắc thái riêng biệt này. Nhưng chúng ta cũng không nên đặt nặng vấn đề hội nhập đức tin vào văn hoá mà đưa vào nghệ thuật thánh những hình ảnh, hay nét vẽ quá tự do khiến cho đức tin và lòng sùng mộ của người tín hữu bị thương tổn, chia trí khi ngắm nhìn các ảnh tượng phóng khoáng đó. Thí dụ, về các Thánh tử đạo Việt Nam thì không thể vẽ thiếu nét lịch sử về y phục và sắc thái địa phương, khiến cho tín hữu con cháu ngày nay và mai sau có thể hiểu sai về nguồn gốc và đặc tính riêng của mỗi vị khi nhìn vào chân dung hay hình vẽ các ngài.

Tóm lại, việc sử dụng ảnh tượng trong Giáo hội Công Giáo không phải là hình thức tôn thờ ngẫu tượng (idolatry) hay thờ ảnh tượng (iconolatry) như dân ngoại (pagans) tôn thờ các thần (idols) được đúc nặn và trưng bày trong các đền thờ của họ.

Để phân biệt điều này, chúng ta cần tránh những hành động có tính chất mê tín như sờ mó vào các ảnh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh rồi làm dấu thánh giá trên mình, hay lấy khăn tay lau các ảnh tượng kia để đem vể nhà ấp ủ, tương tự như dân ngoại tỏ lòng cung kính các tượng thần của họ.

Là tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta phải bày tỏ lòng tôn kính các Ảnh tượng của Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ cách xứng hợp bằng hành động cúi đầu hay hôn kính Thánh Giá, và các ảnh tượng thánh trưng bày ở tư gia hay ở nhà thờ, nhà nguyện. Nhưng phải bái quỳ ( genuflect) trước Nhà Tạm ( Tabernacle) để tỏ lòng tôn thờ Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trong phép Thánh Thể giữa trần gian.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

CÁC NHÀ KHẢO CỔ TÌM THẤY NƠI GIAM CẦM THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ


Nơi giam cầm Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô


Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy chứng cứ ủng hộ giả thuyết rằng Thánh tông đồ Phêrô từng bị Hoàng đế Nero nhốt vào ngục tối trong lòng đất trước khi bị xử tử trên thập tự giá.
Nhà tù Mamertine (tên tiếng Ý là Carcere Mamertino) là một ngục tối được xây trước thời Chúa Giêsu, nằm ở chân đồi Capitoline, ngọn đồi quan trọng nhất trong số 7 đồi của Rome thời cổ đại. Vào thời điểm hoàn công, đây là nhà tù duy nhất tại Rome, được dùng để giam cầm những tù nhân bị chính quyền cho là phạm trọng tội trước khi mang họ ra xử tử. Nơi này gồm 2 xà lim chính, nằm bên dưới lòng đất. Các sử liệu mô tả xà lim hết sức ẩm ướt và thường xuất hiện điềm gở, và hiếm khi nào có tù nhân bị nhốt lâu dài tại đây. Quan trọng hơn nữa, Mamertine theo sử sách là nơi từng giam giữ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và gần đây nhất, giới khảo cổ học tại Ý đã tìm thấy chứng cứ chứng minh giả thuyết này.
Những tù nhân nổi tiếng
Bất chấp cái tên mang nghĩa trung cổ, nhà tù Mamertine từng được một số sử gia cổ đại đề cập, bao gồm sử gia La Mã Titus Livius Patavinus (Livy), người ghi nhận nó đã được xây dựng vào thế kỷ thứ 7 trước CN. Đây là thời của Ancus Marcius, vị vua thứ tư trong số 5 vị hoàng đế của Rome (640 - 616 Trước CN) trước khi La Mã chuyển sang thể chế Cộng hòa.
 
Người La Mã là những người đầu tiên sử dụng các nhà tù làm nơi trừng phạt kẻ phạm tội, và các xà lim thường được xây bên dưới lòng đất, dùng để giam giữ tù chính trị, tội phạm trong một thời gian ngắn. Chuyện thụ án trong thời gian dài chỉ được áp dụng phổ biến từ thế kỷ thứ 15. Do vậy, những người bị giam ở Mamertine đều thuộc nhóm sắp bị xử tử hình, hoặc đơn giản là để họ chết đói cho khuất mắt. Trong số những nhân vật nổi tiếng từng trải qua những ngày cuối đời trong ngục tối bao gồm Vercingetorix, lãnh đạo người Gaulois chống Đại đế Caesar vào năm 52 trước CN; Simon Bar Jioras, người bảo vệ Jerusalem nhưng bị Đại đế Titus đánh bại vào năm 70; và cả 2 vị Thánh tông đồ Phêrô lẫn Phaolô.
Đặc biệt, xà lim nằm sâu hơn trong lòng đất có hình tròn, được gọi là Tullianum, theo tên người xây dựng là Servius Tullius. Tầng hầm này nằm bên trong hệ thống thoát nước dưới thành phố Rome thời cổ, và chỉ có thể đi xuống thông qua một cái lỗ trên trần. Tại đây có đặt một tấm đá được cho là in hình đầu của Thánh Phêrô khi ngài bị lôi xuống xà lim này. Tullianum cũng nằm ở khu vực sâu nhất và bí mật nhất trong toàn bộ nhà giam, đóng vai trò không chỉ là nơi trừng phạt hoặc tra tấn, mà còn là điểm giam cầm và xử tử tội phạm. Sử gia cổ đại Sallust từng mô tả xà lim này nằm ở độ sâu gần 4m, với trần nhà chỉ cao 2m, bề dài 9m và rộng 6,7m. Tù nhân bị nhốt ở đây đều là tử tù, bị xử tử bằng cách treo cổ hoặc bỏ đói đến chết. Một cánh cửa sắt nằm ở cuối xà lim, mở ra cống xả Cloaca Maxima, và quản giáo tống thi thể của tử tù xuống đây để trôi thẳng ra sông Tiber.
 
Thánh Phêrô ở Tullianum
Hiện nơi từng là xà lim có đặt bệ thờ nhỏ để tưởng nhớ việc Thánh Phêrô đã thực hiện nghi thức rửa tội cho các tù nhân khác. Phía trước bệ thờ có một cây thập giá ngược màu đỏ, tượng trưng cho sự kiện ngài bị đóng đinh ngược trên thập tự vào năm 64. Một miệng giếng mở nằm ở phía trước bệ thờ cho phép lấy nước suối từ trong lòng đất, và đây cũng là nước tương truyền mang quyền năng chữa lành vết thương, và đã phun khỏi lòng đất khi Thánh Phêrô rửa tội cho tù nhân và cai ngục.
Theo các cổ thư của Công giáo, Thánh Phêrô và Phaolô đều bị Đại đế Nero giam cầm trong nhà ngục Mamertine trước khi xử tử. Đây cũng là nhà tù đã xuất hiện trong thư Thánh Phaolô (Timothê 4:21), nơi ngài yêu cầu môn đệ Timothê đến thăm vì cho rằng mình sẽ không ra tù cho đến mùa đông năm sau. Thánh Phaolô cũng đề cập tình trạng tù tội trong các lá thư khác (Philipphê 1:13): “Những gì mà ta trải qua trong cảnh tù tội đều vì Chúa Kitô”.
 
Chứng cứ khảo cổ mới
Trong khi Sách Thánh từng đề cập chuyện giam cầm của Thánh Phaolô, thì phải đến những năm gần đây các nhà khảo cổ học Ý mới tìm thấy chứng cứ ủng hộ giả thuyết về thời gian tù đày của Thánh Phêrô trong một nhà ngục bên dưới lòng đất, không lâu trước khi ngài bị đóng đinh. TờThe Telegraph UK dẫn lời tiến sĩ Patrizia Fortini thuộc Ban Khảo cổ của Rome cho biết, họ đã tìm thấy các bức bích họa tại nơi giam cầm Thánh Phêrô, có niên đại từ thế kỷ thứ 7. Sau đó, nhà tù Mamertine dần dần trở thành nơi thờ Thánh Phêrô, cho đến khi một nhà thờ được xây bên trên. Từ đó, nơi này trở thành địa điểm hành hương vào thời Trung Cổ, cho đến khi một nhà thờ khác tên St Joseph of the Carpenters (San Giuseppe dei Falegnami) được xây dựng vào thế kỷ 16 và tồn tại cho đến ngày nay.
 
Bên ngoài nhà thờ có ghi dòng chữ “Nhà tù giam Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô”, kèm theo hai bức tượng bán thân bằng đá cẩm thạch được khắc họa dựa trên thánh tông đồ, đặt đằng sau một cửa sổ có song sắt. Khi nhà văn nổi tiếng người Anh Charles Dickens đến đây vào thế kỷ thứ 19, ông đã dùng những chữ nặng nề nhất để mô tả nơi này: “Sự ghê rợn, tối tăm của một nhà tù cũ kỹ chán ngắt và kiên cố”.
 
LING LANG
Nguồn tin: Báo Công giáo và Dân tộc

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

GP.VĨNH LONG: LỄ GIỖ LẦN THỨ 162 CỦA THÁNH GIUSE TRÙM LỰU


VinhLong-162namTrumLuu-04.jpgĐến hẹn lại về, nhiều giáo dân trong giáo phận Vĩnh Long, cách riêng quới chức đã quy tụ vh nhà thờ Mặc Bắc - ngôi nhà thờ lớn nhất nhì giáo phận Vĩnh Long - để cùng nhau dâng Thánh Lễ giỗ lần 162 của Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu.

Thánh Giuse Trần Văn Lựu cũng là người con của họ đạo Mặc Bắc và làm Trùm Nhứt. Thánh Giuse Lựu sinh 1789 và được phúc tử đạo năm 1854.

Từ sáng sớm, đoàn con của Giáo Phận đã dắt díu nhau về Mặc Bắc. Cờ hoa cũng như trang trí làm cho Mặc Bắc ngày hôm nay vui hơn, phấn khởi hơn và cũng đã phần nào dịu cơn nắng nóng do con người phá đi khí hậu trong lành Chúa ban cho.

Đâu đó trong khuôn viên nhà thờ, từng nhóm tựu lại với nhau, có những người biết nhau từ trước để rồi tay bắt mặt mừng. Những nụ cười thân thiện được trao cho nhau trong ngày Đại Lễ này của giáo phận Vĩnh Long.

9 giờ 00, đoàn rước là các quới chức trong giáo phận (có cả quới chức tôn giáo bạn) và quý cha cất bước từ tiền đình nhà Xứ. Xương Thánh Giuse Lựu được cung nghinh sau đoàn quới chức. Cuối cùng đoàn đồng tế cũng chính là vị chủ tế Thánh Lễ hôm nay là Đức Giám Mục Phêrô Huỳnh Văn Hai- giám mục giáo phận Vĩnh Long.

Mở đầu Thánh Lễ, Đức Cha Phêrô ngỏ đôi lời với cộng đoàn về ý nghĩa của Thánh Lễ hôm nay.

Trong bài giảng, Đức Cha Phêrô mời gọi cộng đoàn cùng nhìn lại cách sống của những vị tử đạo. Các thánh tử đạo đã đi theo con đường thập giá của Chúa Giêsu. Đặc biệt, Đức Cha gợi lại hình ảnh của tên bếp Nhân - một người đã chối Chúa và bán Chúa qua cách sống của mình.

Qua hình ảnh của bếp Nhẫn, Đức Cha cảnh tỉnh mỗi người rất dễ sống như bếp Nhẫn nếu như lười biếng tham dự Thánh Lễ, học hỏi giáo lý, sống chứng nhân Tin Mừng, sống niềm tin vào Chúa.

Đức Cha mời gọi cộng đoàn cố gắng sống niềm tin của mình chứ đừng bắt chước và sống như tên bếp Nhẫn thời của Thánh Giuse Trùm Lựu.

Bài giảng kết thúc thật sâu lắng với lời nhắc nhở của Đức Cha. Sau đó là phần đón nhận một số quới chức mới của họ đạo Mặc Bắc.

Nghi thức đón nhận cũng như làm phép dây băng diễn ra thật trang trọng. Quý cha và đặc biệt cha đặc trách quới chức giáo phận đã trao dây băng cũng như chứng nhận quới chức cho các vị được nhận vào quới chức của giáo xứ Mặc Bắc hôm nay.

Thánh Lễ kết thúc khá ngắn gọn trong bầu khí nhẹ nhàng đơn sơ bởi không có những lời cám ơn soạn sẵn dài đăng đẳng. Đây cũng là điểm làm cho cộng đoàn dân Chúa cảm thấy nhẹ nhàng hơn bởi lẽ Thánh Lễ đã kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ để rồi cộng đoàn đã thấm mệt.

Sau Thánh Lễ, những người được mời, có cả tôn giáo bạn và chính quyền địa phương tựu lại những nơi đã chuẩn bị để dùng bữa cơm thân mật do giáo xứ khoản đãi.

Cộng đoàn dùng bữa xong và cùng nhau nghỉ ngơi để dành sức và thời gian chiều nay để học hỏi về hành hương Năm Thánh.

Thánh Lễ cũng như sinh hoạt dành cho quới chức giáo phận Vĩnh Long nhân ngày giỗ 162 của Thánh Trùm Lựu đã khép lại. Mọi người lại trở về với gia đình, với công việc đời thường nhưng vẫn tin rằng Thánh Giuse luôn đồng hành với Đức Giám Mục Giáo Phận, quý linh mục, tu sĩ nam nữ và cộng đoàn dân Chúa Giáo Phận Vĩnh Long trên mọi nẻo đường đời.

VinhLong-162namTrumLuu-01.jpg VinhLong-162namTrumLuu-02.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-03.jpg

 VinhLong-162namTrumLuu-05.jpg VinhLong-162namTrumLuu-06.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-07.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-08.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-09.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-10.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-11.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-12.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-13.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-14.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-15.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-16.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-17.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-18.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-19.jpg

VinhLong-162namTrumLuu-20.jpg

 Người La Mã

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | JCPenney Coupons